Tam Tòa - Đâu là sự thật?
23.07.2009
(GPVO) - Ngày 20/72/2009 vừa qua, bà con giáo dân giáo xứ Tam Tòa, thành phố Đồng Hới đến dựng nhà nguyện trên móng nhà thờ Tam Tòa, bên cạnh tháp chuông cổ kính đã có hàng trăm năm, để làm nơi thờ tự tạm thời, thay cho căn phòng tại một tư gia vốn đã không đủ điều kiện và an toàn cho giáo dân thực hiện các lễ nghi tôn giáo. Sự việc đơn giản và phải lẽ đó đã trở nên nghiêm trọng khi chính quyền tỉnh Quảng Bình đã cho hàng trăm cảnh sát và đông đảo lực lượng dân quân đến càn quét, đánh đập tàn nhẫn và bắt hàng chục giáo dân đi biệt tích cũng như chiếm đoạt toàn bộ tài sản của Giáo hội. Ngay sau khi sự việc xảy ra, nhiều báo đài đã lên tiếng bảo vệ cho Công Lý; nhiều người muốn biết sự việc ra sao? Chúng tôi đã tìm hiểu lịch sử vấn đề, xin được nêu lên để Độc giả biết đâu là sự thật.
Giáo xứ Tam
Tòa (có nhà thờ tọa lạc tại đường Nguyễn Du, thành phố Đồng Hới hiện nay) được
thành lập khoảng năm 1631 với tên gọi xứ đạo Đông Hải, còn gọi là Họ Lũy(*).
Năm 1774 (có
tài liệu ghi là năm 1798), sau khi lực lượng Chúa Trịnh chiếm được Đàng Trong
và san bằng lũy Thầy, nhà thờ Đông Hải được chuyển về khu vực Cầu Ngắn, nay
thuộc phường Phú Hải, và được gọi là giáo xứ Sáo Bùn. Khoảng năm 1886, Sáo Bùn
có hơn 200 “nóc nhà” với khoảng 1200 giáo hữu. Ở đây đã có Viện Dục Anh để giúp
nuôi trẻ em nghèo và có tu viện dòng Mến Thánh Giá phục vụ bác ái từ thiện và
giáo dục.
Năm 1886,
Quân Văn Thân đột kích giáo xứ Sáo Bùn, giết chết 52 giáo dân, đốt phá nhà thờ
Sáo Bùn, nên số giáo dân chạy về Đồng Hới lánh nạn. Sau khi được sự cho phép
của chính quyền bảo hộ và các cơ quan hữu trách, Cha sở lúc này là cố Claude
Bonin và giáo dân Tam Tòa chuyển nhà thờ về ở rẻo đất bên bờ sông Nhật Lệ, thuộc đất làng Mỹ Lệ
và đổi tên thành giáo xứ Tam Tòa. Sau khi Giáo phận Huế được thành lập,
Tam Tòa thuộc sự quản lý của Giáo phận Huế.
Nhà thờ Tam
Tòa lần đầu tiên được xây dựng năm 1887 do linh mục Clause Bonin (cố Ninh). Đến
năm 1940, linh mục René Morineau (cố Trung) tái thiết lại khang trang và hoàn
chỉnh hơn. Năm 1953, sau khi được chịu chức Linh mục, cha Fx. Nguyễn Văn Thuận được
Đức Giám mục Giáo phận Huế bổ nhiệm về trông coi giáo xứ Tam Tòa.
Năm 1954, sau
hiệp định Genève, do hoàn cảnh lịch sử, hầu hết giáo dân Tam Tòa, cùng với rất
nhiều dân cư ở đây và giáo dân các xứ thuộc hạt Nam Quảng Bình di cư vào Đà
Nẵng sinh sống đã thành lập giáo xứ Tam Tòa ở Đà Nẵng. Từ đó, số giáo dân còn
lại ở đây được coi sóc bởi 2 linh mục Trần Quang Nghiêm và Lương Minh Thể. Đến
năm 1962, cha Thể qua đời. Năm 1964, cha Nghiêm chuyển đi nơi khác. Sau đó chiến
tranh lại bùng phát, lịch sử có nhiều đổi thay nên giáo xứ Tam Tòa phải vắng
linh mục coi sóc cho đến nay.
Năm 1968, nhà
thờ Tam Tòa bị máy bay Mỹ oanh kích, đổ nát và duy trì như vậy cho đến ngày
nay. Mặc dầu số giáo dân còn lại quá ít ỏi, không đủ khả năng tái thiết, nhưng
Tổng Giáo phận Huế cũng như bà con Tam Tòa vẫn luôn ước mong tái thiết nhà thờ
mà Cha Ông họ đã dày công xây dựng.
Ngày
26/3/1997, UBND tỉnh Quảng Bình tự động ra quyết định đưa nhà thờ Tam Tòa vào
danh mục di tích lịch sử, là một di chứng tội ác chiến tranh mà không thông qua
ý kiến của chủ sở hữu là Tổng Giáo phận Huế và bà con giáo dân giáo xứ Tam Tòa.
Đến ngày
15/5/2006, Tổng Giáo
phận Huế chuyển giáo hạt Nam Quảng Bình cho Giáo phận Vinh, trong đó có giáo xứ
Tam Tòa. Ngay sau đó, Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, Giám mục Giáo phận
Vinh bổ nhiệm linh mục Phêrô Lê Thanh Hồng về quản xứ Sen Bàng, kiêm xứ Tam
Tòa. Thời điểm này Tam Tòa có hơn 1000 giáo dân sinh sống tại địa bàn thành phố
Đồng Hới.
Do nhà thờ cũ
đổ nát, mọi sinh hoạt tôn giáo phải nhờ nhà của một giáo dân tại đường Nguyễn
Du, cách nền nhà thờ Tam Tòa khoảng 100m về phía Tây Bắc. Nên Giáo phận Vinh đã
làm các thủ tục đề nghị UBND tỉnh Quảng Bình trả lại đất này để tái xây dựng
nhà thờ Tam Tòa, đảm bảo quyền lợi thực tế chính đáng của công dân. Đây là điều
hoàn toàn có căn cứ lịch sử và cơ sở pháp lý.
 Trước hết, chúng ta phải khẳng
định việc Giáo phận Vinh tái thiết giáo xứ Tam Tòa là cần thiết và hợp pháp,
đáp ứng nhu cầu thực tế của công dân, không cần phải xin cấp phép lại. Theo
hiến pháp Việt Nam:
"Công dân có quyền tự do tín ngưỡng
tôn giáo, theo hay không theo một tôn giáo nào" (Điều 70). Điều đó
được cụ thể hóa tại điều 5 Pháp lệnh tôn giáo 2005 "Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo
quy định của Pháp luật". Điều này hiện nay đã được chính quyền tỉnh
Quảng Bình, thành phố Đồng Hới tạo điều kiện thuận lợi cho bà con giáo dân sinh
hoạt tôn giáo tại nhà riêng của một giáo dân, chờ xây dựng lại nhà thờ mới. Đặc
biệt, đã rất nhiều lần Đức Giám mục giáo phận Vinh cùng với nhiều linh mục khác
đã dâng lễ trên khuôn viên đất nhà thờ Tam Tòa, trước sự tham dự và chứng kiến
của đông đảo bà con lương giáo.
Thứ hai, việc Giáo phận Vinh yêu
cầu UBND tỉnh Quảng Bình trả lại khuôn viên nhà thờ Tam Tòa, để xây dựng lại,
phục vụ nhu cầu của đông đảo giáo dân ở đây là điều chính đáng, đúng pháp luật.
Bộ Giáo luật
1983 quy định: Tòa Giám mục, đứng đầu là Giám mục Giáo phận, là người trực tiếp
đứng chủ, quản lý, sử dụng mọi tài sản của Giáo Hội tại địa phương (Điều 1279).
Theo đó, đất và nhà thờ Tam Tòa là tài sản của Giáo hội Công Giáo Việt Nam,
do tòa Tổng giám mục Huế trực tiếp đứng chủ, quản lý và sử dụng, trước sau
không thay đổi.
Địa bàn quản
lý của tổng giáo phận Huế trước và sau hiệp định Senève (1954) vẫn bao gồm cả
hạt Nam Quảng Bình. Trong đó, nhà thờ Tam Tòa cũng thuộc sự quản lý đó cả trên
lý thuyết và thực tiễn. Việc giáo dân Tam Tòa, vì hoàn cảnh lịch sử phải di cư
đi nơi khác làm ăn sinh sống, nhà thờ bị chiến tranh tàn phá nặng nề, số còn
lại không có khả năng tái thiết để đưa vào sinh hoạt, hoàn toàn không làm thay
đổi chủ sở hữu nhà thờ và đất đó, là tòa tổng giám mục Huế. Điều này cũng giống
như một người cha có một thửa đất rộng. Ông ta xây nhiều ngôi nhà, giao cho các
con của mình quản lý, sử dụng. Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, một trong số người
con đó phải chuyển chỗ ở, ngôi nhà của người cha để trống. Cho dù thời gian có
làm cho nó hư hỏng, xuống cấp, mặc cho người cha có sửa chữa hay không thì
quyền sở hữu nhà đất đó vẫn thuộc về người Cha đó, không ai có quyền xâm phạm,
pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Điều 70 hiến
pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ ràng rằng: "Những nơi thờ tự của các tổ chức tín
ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, không ai được xâm phạm". Điều
đó đã được quy định chi tiết và cụ thể hơn tại Pháp lệnh tôn giáo năm 2005: "Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín
ngưởng tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm mọi việc xâm phạm tài sản đó"
(Điều 26). Và "Đất có các công trình
do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh
đường..." (Điều 27). Nội dung này cũng đã được quy định rất chi tiết
tại các Điều 220 Bộ luật dân sự và điều 9 Luật đất đai 2003.
Chính vì thế,
năm 1996, UBND tỉnh Quảng Bình tự tiện chia cắt đất và đưa khuôn viên nhà thờ
Tam Tòa vào danh mục di tích tội ác chiến tranh mà không thông qua ý kiến của
chủ sở hữu là Tòa tổng giám mục Huế là vi phạm pháp luật cách nghiêm trọng, đi ngược
lại sự thật lịch sử.
Trên thực tế
thì đất nhà thờ Tam Tòa có từ năm 1886, cho đến năm 1997 bị UBND tỉnh Quảng
bình chiếm dụng trái phép thì diện tích đất này chưa bao giờ thuộc diện bị cải
tạo theo luật cải cách ruộng đất và thông tư số 73/TTg ngày 7/7/1962, cũng
không hề có quyết định trưng dụng, trưng thu hay trưng mua nào hết. Do đó nó
không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003
và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.
Từ những nhận
định trên, chúng tôi cho rằng khuôn viên đất và nhà thờ Tam Tòa là tài sản
thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam
do Tổng Giáo phận Huế (nay đã chuyển giao cho Giáo phận Vinh) trực tiếp quản lý
và sử dụng. Việc UBND tỉnh Quảng Bình đang quản lý khuôn viên này theo danh mục
đất có di tích lịch sử là điều bất hợp pháp, cần áp dụng Điều 98 Luật đất đai
2003 để xử lý chuyển mục đích sử dụng, trả lại cho Giáo hội Công Giáo Việt Nam,
cụ thể là Giáo phận Vinh.
Giáo phận
Vinh và bà con giáo dân giáo xứ Tam Tòa có quyền đòi lại toàn bộ đất và tài sản
trên đất theo hiện trạng ban đầu. Điều 256 Luật đất đai 2003 quy định: "Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có
quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản
không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm
hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó...".
Bởi thế, sau
nhiều lần đề xuất không được chấp thuận, đến nay nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của
bà con giáo dân giáo xứ Tam Tòa ngày càng cao, căn phòng của giáo dân đang làm
nơi thờ tự không đủ chỗ, nhất là không đảm bảo an toàn cho mọi người khi đến cầu
kinh, dâng lễ. Vì thế, Linh mục phụ trách và bà con giáo dân nơi đây đến dựng một
lán tạm trên nền móng nhà thờ Tam Tòa, bên cạnh ngôi tháp chuông cổ kính đã có
từ hàng trăm năm là điều hoàn toàn hợp lý, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Tuy nhiên, chính
quyền tỉnh Quảng Bình lại hành động ngược lại với các quy định của Pháp luật, công
khai dùng vũ lực càn quét, đàn áp và bắt bớ dân lành, chiếm đoạt tài sản của Giáo
hội, ngăn cản công dân thực hiện quyền tự do tôn giáo của mình. Điều cần nói hơn
là chính quyền tỉnh Quảng Bình đã cho một lực lượng công an áp đảo đàn áp, bắt bớ
hàng chục dân lành, chiếm đoạt tài sản Giáo hội một cách ngang nhiên mà không hề
tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Điều này là vi phạm nghiêm
trọng Pháp luật hiện hành, xúc phạm nghiêm trọng đến quyền công dân, quyền tự
do của các tổ chức tôn giáo.
Với những nội
dung trên, chúng tôi hy vọng quý Độc giả sẽ hiểu rõ nội dung của vấn đề, để có
thể có cái nhìn khách quan nhất, hầu công lý sớm được thực thi. Đồng thời, trong
tinh thần đổi mới, khép lại quá khứ để hướng đến tương lai, chúng tôi mong muốn
UBND tỉnh Quảng Bình cũng như các cơ quan ban ngành liên quan, tôn trọng luật
pháp và thực hiện pháp chế Xã hội chủ nghĩa, trả lại tự do và công lý cho Tam
Tòa.
---------------------
Chú thích: (*) Số liệu này chúng
tôi thu thập từ các bài "Kỷ niệm 120 năm giáo xứ Tam Tòa Đồng Hới và
Giáo hạt Nam Quảng Bình" của tác giả Dương Kim Sơn. Và Nguyễn Đức Cung, Quảng
Bình chín trăm năm nhìn lại (1075-1975), tập I, Nhật Lệ 2006.
Nhóm PV GPVO
|