GPVMenu

 Phim Công giáo online 

 Lịch Phụng vụ GP Vinh 

 Giờ lễ tại các nhà thờ 

 Quỹ Học bổng NTT 

 Giấy tờ - Chứng chỉ 

 ĐCV Vinh Thanh 


Xem tiếp...
 Gia đình Web Giáo phận 
Lam Hồng (Đức tin & VH)

Phim Công giáo

Thánh Ca Online

ĐCV Vinh Thanh

Hội dòng MTG Vinh

Quỹ Học Bổng NTT

GĐ Thánh Tâm GP Vinh

Doanh nhân GP Vinh

Giáo xứ Bảo Nham

Giáo xứ Hòa Ninh

Giáo xứ Làng Rào

Giáo xứ Nghi Lộc

Giáo xứ Tân Lộc

Giáo xứ Trung Nghĩa

Sinh viên CG Vinh

CĐ Vinh Hà Nội
 Tra cứu bài viết 
Tháng Chín 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
 <  > 
 Thống kê truy cập 
 Khách: 25
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 025
 Lượt tr.cập 019671685
 Từ điển online 
TỪ ĐIỂN ONLINE

 Bookmark & Share 

website security
 
Chuyên mục » Giáo Hội CG Việt Nam - Tư liệu 21.09.2017
Lược sử Giáo Hội Việt Nam - 4. Thời kỳ thử thách (1802-1885)
18.05.2008

.

LƯỢC SỬ
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM

 

1. Nhập đề
2. Thời kỳ khai sinh (1533-1659)
3. Thời kỳ hình thành (1659-1802)
4. Thời kỳ thử thách (1892-1885)
5. Thời kỳ phát triển (1885-1960)
6. Thời kỳ trưởng thành (1960 đến nay)



   Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, mở đầu triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) đóng đô ở Phú Xuân, tức Huế ngày nay. Vì nhớ công ơn Đức cha Bá Đa Lộc, nên vua Gia Long đã cho phép tự do truyền bá đạo Công giáo. Nhà vua có thiện cảm với đạo nhưng không muốn theo vì thấy luật lệ đạo quá nghiêm khắc đối với tục đa thê và việc thờ cúng tổ tiên. Ông nói: “Đạo Thiên Chúa rất hợp với đạo lý nhưng quá nghiêm khắc với tục đa thê. Đối với ta, không thể chỉ lấy một vợ, mặc dù ta thấy là trị cả nước còn dễ dàng và ít mệt mỏi hơn là giữ cho gia đình ta được yên ấm” (x. Nguyễn Văn Kiệm, Một số vấn đề lịch sử..., sđd, tr. 27). Sau gần 20 năm được yên ổn dưới triều vua Gia Long (1802-1820), người Công giáo bắt đầu gặp những thử thách lớn lao và cả những cuộc bách hại kể từ triều vua Minh Mạng cho đến năm 1885.

Một vài lý do tiềm ẩn

    Hoàng tử Cảnh chết vì bệnh đậu mùa năm 1801 lúc mới được 22 tuổi, vua Gia Long phế bỏ người cháu đích tôn là Đán và chọn người con bà thứ phi là hoàng tử Đảm kế vị, mặc dù nhiều quan lại triều đình lúc ấy can gián vua nên giữ chính tông, “đích tôn thừa trọng”, trong số đó, Tả Quân Lê Văn Duyệt là người phản đối mạnh mẽ nhất. Sau khi vua Gia Long chết, hoàng tử Đảm lên ngôi (15-2-1820) lấy niên hiệu là Minh Mạng. Vì muốn bảo vệ ngai vàng cho dòng tộc nên vua đã xử tội hoàng tôn Đán thông dâm với mẹ là bà Vương Cơ Tống Thị Quyên năm 1824. Bà bị dìm xuống nước cho chết, còn Đán và con cháu bị giáng làm thường dân (x. Trần Đình Sơn, Sđd, Tạp chí Xưa và Nay, số 81B, tháng 11-2000, tr. 26-27).

   Dù Lê Văn Duyệt đã chết (25-8-1832), vua Minh Mạng vẫn giữ lòng hận thù. Vua bãi bỏ chức Tổng Trấn, lập toà án xét xử Lê Văn Duyệt tội hà lạm công quỹ. Vua cho đào mả và san bằng mộ bia khiến cho người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi nổi loạn chống lại triều đình. Cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi cũng là một lý do thúc đẩy vua Minh Mạng thù ghét và bách hại người Công giáo và tạo nên những hiểu lầm về Thánh tử đạo Joseph Marchand Du. (x. Gs. Lê Văn Sáu, Một vấn đề lịch sử, Sđd, tr. 101). Ngày 8-9-1835, quân triều đình chiếm lại được thành Phiên An. Vua truyền chém đầu, phân thây 1.994 người, trong đó có cha Phước, cha sở Chợ Quán, và chôn chung trong một hố sâu gọi là Mả Nguỵ. Sáu người còn lại bị giải về kinh đô Huế, trong đó có cha Marchand Du, người đã bị Lê Văn Khôi dùng vũ lực ép phải vào thành Phiên An, vì tin tưởng cha có phép mầu và lôi kéo được các tín hữu chống lại triều đình, như các thư cha Marchand Du còn để lại đã minh chứng điều đó. Thật ra, trong số 2.000 người phản loạn, chỉ có 26 người đàn ông và 40 đàn bà trẻ con là người Công giáo (x. Nguyễn Văn Quý, Địa phận Sài Gòn 1835-1944, tư liệu, 1993, tr. 5-39).

   Một câu hỏi đặt ra cho những người thời trước và ngay cả thời nay: tại sao người Việt Nam thời đó lại theo đạo Công giáo bất chấp những thử thách, gian lao?

Đi tìm con đường sống

   Câu trả lời đơn giản là người Công giáo thời đó muốn đi tìm con đường sống trong cái lẽ tử sinh của kiếp người. Hơn nữa, với những sắc dụ cấm đạo, nhiều người đã gặp khó khăn trong việc học hành, thi cử, làm lụng, bán buôn. Có người còn bị đày ải, giết hại. Họ vẫn muốn sống với tất cả niềm vui của Tin Mừng và muốn chứng minh sự thật của Tin Mừng.

   Nho giáo dạy người dân phải trung với vua, vì vua là thiên tử thay trời trị dân, có toàn quyền sinh sát đến độ “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Người Công giáo lại được dạy chỉ có Chúa Trời là chủ của sự sống và tất cả đều là anh em, con cái của Cha trên trời, nên đều bình đẳng với nhau về mặt giá trị làm người dù vẫn có tôn ti trật tự trong xã hội. Hơn nữa, sau cuộc sống lữ hành ở trần thế này còn có cuộc sống vĩnh hằng ở thế giới bên kia mà người ta sẽ đạt được nhờ lòng tin vào Đức Giêsu. Chính trong tinh thần ấy, giá trị con người được nâng cao đến tột đỉnh.

   Niềm tin vào đời sống vĩnh cửu lại thể hiện rất trong sáng và tích cực trong đời sống thường ngày và nó trở nên một sức hút kỳ lạ của tôn giáo mới. Người Việt Nam thời đó chưa hiểu biết nhiều về khoa học, chưa biết giữ vệ sinh nên nhiều trẻ sơ sinh bị chết, các sản phụ mắc bệnh rất nhiều. Hằng ngày, người ta thường dùng nước ao tù để tắm rửa, ăn uống, nên dễ bị các bệnh toét mắt, ghẻ lở, giun sán, đường ruột… Các Kitô hữu, nhờ được các giáo sĩ Tây Phương, các thầy giảng, các dì phước Mến Thánh Giá dạy khoa học phổ thông nên đã biết lọc nước để dùng và nấu nước chín để uống, giữ vệ sinh thân thể nên trở thành những người khoẻ mạnh, xinh đẹp và thông minh hơn. Các nữ tu Mến Thánh Giá thời ấy trở thành những nữ hộ sinh và là y tá nông thôn.

   Trong xã hội phong kiến xây dựng trên Khổng giáo: nữ giới bị khinh miệt bởi quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Đạo Công giáo, với chế độ một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng và quan niệm mỗi người đều là con cái Chúa, đã giới thiệu những nét mới cho xã hội Việt Nam.

   Thời đó, chữ nghĩa “quý giá” và đắt đỏ, cả làng may ra chỉ có một vài người giàu mới dám cho con đi học. Nhưng mọi Kitô hữu, bất luận nam nữ, đều được khuyến khích học hành, lúc đầu là chữ Nho, chữ Nôm, sau là chữ Quốc ngữ. Kinh sách đọc hằng ngày, giáo lý học hằng tuần, càng làm cho người có đạo dễ học hành và truyền bá chữ nghĩa cho nhau hơn.

   Trong dân chúng, chữ Quốc ngữ được phổ biến rộng rãi càng làm cho những quan lại theo Nho học sợ hãi đến nỗi thi sĩ Trần Tế Xương (1870-1907) đã phải thốt lên:

   “Cái học nhà Nho đã hỏng rồi

Mười người đi học chín người thôi

   Vì thế, ngay sau khi người Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862) thì tờ Gia Định Báo đã được phát hành ở Nam bộ (1865) bằng chữ Quốc ngữ. Chắc chắn người dân Nam bộ phải biết thứ chữ này cả trăm năm trước thì mới có thể đọc báo được. Chúng ta đừng quên chữ Nho cho đến đầu thế kỷ XX vẫn là chữ chính thức của nhà nước quân chủ ở Việt Nam. Sự đố kỵ của các Nho sĩ và quan lại đối với chữ Quốc ngữ là một trong những lý do quan trọng dẫn đến những cuộc tàn sát trong phong trào Văn Thân. Thật ra, chữ Nôm vẫn được tôn trọng trong cộng đồng người Việt Công giáo với hàng trăm tác phẩm đủ thể loại được biên soạn trong thời kỳ này. Ta có thể nêu tên một tác phẩm tiêu biểu: Sách dạy tập đi đàng nhân đức lọn lành của Cố Chính Philipphê Trung (M. Sérard), viết năm 1799. Sách gồm 24 quyển, mỗi quyển trung bình 200 trang, toàn bộ là 4.800 trang. Mỗi trang có từ 10-12 dòng, mỗi dòng từ 30-32 chữ. Tổng cộng khoảng 1.500.000 chữ Nôm, dài gấp 9 lần Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du.

   Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng: đạo Công giáo đã góp phần không nhỏ vào cuộc thăng hoa các nền văn hoá của người Chăm, người Khơ Me ở phương Nam. Nền văn hoá tinh thần của Kitô giáo theo đoàn người mở đất Phương Nam đã thay đổi nền văn hoá vật chất, tính giao với những Linga và Yoni của Chiêm Thành, Thuỷ Chân Lạp. 

   Về phương diện kinh tế, người theo đạo cực khổ tư bề vì bị áp bức bởi bọn cường hào ác bá trong làng, vì sưu cao thuế nặng, vì bị cấm hành nghề. Họ chỉ còn cách từ Bắc xuôi vào miền Nam, đến những phiên trấn mới mở, sống chung với những kẻ bị kết án lưu đày, cùng che giấu lai lịch của mình bằng những tên gọi trống không: anh Hai, chị Ba, cô Tư... để được yên thân giữ đạo. Họ sống đùm bọc lẫn nhau, coi nhau như anh em họ hàng, nên gọi là họ đạo (giáo xứ), truyền nghề cho nhau để cùng làm cùng hưởng, làm ra cái gì cũng phải thật tốt, bán ra cái gì cũng phải thật rẻ, lúc nào cũng nói thật, nói thẳng để khỏi làm “ô danh Chúa và nhục cho người có đạo”. Cùng lắm, trong cơn bách hại gắt gao, họ rủ nhau trốn vào những nơi hoang vu, phá rừng làm rẫy như ở La Vang, Trà Kiệu. Không ngờ, chính lối sống này lại làm cho đất nước phát triển về mặt kinh tế, bờ cõi được mở mang.

Sống và sống dồi dào

   Năm 1844, Đức Thánh Cha Gregorius XVI chia giáo phận Đàng Trong thành 2 giáo phận mới: Tây Đàng Trong (Sài Gòn) gồm Lục tỉnh Nam Kỳ và Cao Miên do Đức cha Dominique Lefèbvre Ngãi coi sóc, Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) do Đức cha E.T. Cuénot Thể cai quản. Năm 1846, giáo phận Tây Đàng Ngoài được chia làm hai: Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) với 50 linh mục, 6 trợ sĩ và 140.000 giáo dân do Đức cha P.A. Retord Liêu chăn dắt và Nam Đàng Ngoài (Vinh, gồm Nghệ An, Hà Tĩnh) do Đức cha Gauthier Hậu quản trị với 35 linh mục, 4 trợ sĩ và 60.000 giáo dân. Năm 1848, giáo phận Đông Đàng Ngoài lại chia thành Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng) với 45.000 giáo dân, 30 linh mục và 8 thầy giảng và Trung Đàng Ngoài (Bùi Chu) với 135.000 giáo dân trong hai tỉnh Nam Định và Hưng Yên. Năm 1850, Toà Thánh lại chia địa phận Tây Đàng Trong thành hai: Tây Đàng Trong (phần đất của các tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long) do Đức cha Lefèbvre cai quản và Nam Vang (phần đất các tỉnh phía Nam Hậu Giang của Việt Nam và cả nước Cao Miên) do Đức cha J.C. Miche Mịch coi sóc. Giáo phận Đông Đàng Trong cũng chia thành hai: Bắc Đàng Trong là Huế (gồm Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) với 12 linh mục, 2 trợ sĩ và 24.000 giáo dân do Đức cha F.M. Pellerin Phan quản trị và Đông Đàng Trong gồm các tỉnh từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận và các tỉnh Cao Nguyên với 50.000 giáo dân do Đức cha Cuénot Thể coi sóc.

   Như thế, chỉ trong vòng 6 năm, Toà Thánh đã chia nhỏ các giáo phận do số giáo dân tăng lên rất nhanh. Giáo hội Việt Nam vào năm 1850 có 8 giáo phận với số giáo dân ở 4 giáo phận miền Bắc là 380.000 người, 147 linh mục và 4 giáo phận trong Nam khoảng 120.000 người và 80 linh mục.

   Vào năm 1883, Toà Thánh tách giáo phận Đông Đàng Ngoài thành hai  Đông (Hải Phòng) và Bắc (gồm các tỉnh ở phía Bắc như Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng Lạng Sơn) và trao cho Đức cha Colomer Lễ cai quản.

THỐNG KÊ NĂM 1889

(theo Adrien Launay, Atlas des Missions de la Société des MEP, Lille, 1890)

gm: Giám mục         

lm.ts: Linh mục Thừa Sai

lm.VN: Linh mục Việt Nam

nt: Nhà thờ  

cs: Chủng sinh

ts.nam: Tu sĩ nam

tg: Thầy giảng          

ts.nữ: Tu sĩ nữ

cs.ba: Cơ sở bác ái

gd: Giáo dân

Tây Đàng Trong (Sài Gòn): 1 gm. MEP, 52 lm.ts, 42 lm.VN, 189 nt, 214 cs, 425 ts.nữ, 117 cs.ba, 56.000 gd.

Đông Đàng Trong (Quy Nhơn): 1 gm MEP, 25 lm.ts, 14 lm.VN, 40 nt, 54 cs, 440 ts.nữ, 12 cs.ba, 17.773 gd.

Bắc Đàng Trong (Huế): 1 gm MEP, 20 lm.ts, 26 lm.VN, 58 nt, 51 cs, 420ts.nữ, 36 cs.ba, 19.932 gd.

Nam Vang (Cần Thơ): 1 gm MEP, 26 lm.ts, 3 lm.VN, 58 nt, 96 cs, 24 tg, 42 ts.nữ, 61 cs.ba, 17.500 gd.

Tây Đàng Ngoài (Hà Nội): 1 gm MEP, 43 lm.ts, 97 lm.VN, 425 nt, 355 cs,  200.000 gd.

Nam Đàng Ngoài (Vinh): 1 gm MEP, 22 lm.ts, 59 lm.VN, 160 nt, 266 cs, 140 ts.nữ, 58 cs.ba, 72.000 gd.

Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng): 1  gm OP, 10 lm.ts, 32 lm.VN, 321 cs, 82 tg, 64 ts.nữ, 5 cs.ba, 41.120 gd.

Trung Đàng Ngoài (Bùi Chu): 1 gm OP, 16 lm.ts, 66 lm.VN, 118 cs, 3 cs.ba, 189.110 gd.

Bắc Đàng Ngoài (Bắc Ninh): 1 gm OP, 5 lm.ts, 17 lm.VN, 37 cs, 50 tg, 8 ts.nữ, 35.000 gd.

Tổng cộng: 9 gm, 219 lm.ts, 356 lm.VN, 930 nt, 1.246 cs, 156 tg, 1.399 ts.nữ, 292 cs.ba, 648.435 gd.

   Những số liệu trên nói lên sức sống của Giáo hội Việt Nam dù phải chịu nhiều thử thách đau thương. Người ta ước tính có thể có hàng trăm ngàn người bị bách hại trong gần một thế kỷ (1802-1885), đặc biệt dưới triều vua Minh Mạng và Tự Đức. Phong trào Văn Thân với khẩu hiệu “bình Tây sát Tả”û vào những năm 1867-1868, 1873-1874 và 1883-1885 càng làm cho cuộc bách hại thêm gay gắt.

   Thật vậy, trước khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, những cuộc giết hại một số đông người Công giáo đã gây nên tiếng vang quốc tế khiến cho các nước như Anh, Pháp, Tây Ban Nha (x. Một số vấn đề lịch sử…, sđd, tr. 19) muốn can thiệp vào Việt Nam, nhân danh quyền sống và quyền tự do tôn giáo của con người, dù ẩn ý của họ là để chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Một số sử gia đã ghép việc một vài giám mục thừa sai người Pháp như: P. de Béhaine (Bá Đa Lộc), Lefèbvre, Pellerin, Retord, Puginier giúp đỡ thực dân Pháp với việc thực hiện thành công cuộc xâm lược Việt Nam (x. Một số vấn đề lịch sử, sđd, tr. 17-21).

   Chúng ta nên nhớ chỉ có một vài người trong số hơn 200 giáo sĩ đang truyền giáo tại Việt Nam thời gian đó (x. Thống kê Giáo hội Việt Nam năm 1889). Con số quá ít để ta phải phân biệt mà không thể “vơ đũa cả nắm” để kết tội tất cả. Hơn nữa, các giám mục dù là người Pháp hay không đều hiểu rằng cuộc sống ở Việt Nam hay ở nước Pháp chỉ là một giai đoạn của đời sống con người, tất cả đều qua đi để chỉ còn tồn tại Nước Thiên Chúa. Do đó, họ không phục vụ trực tiếp cho nước Pháp hay bất cứ nước nào. Theo não trạng và cách nhìn của người phương Tây thời đó, hành động của họ chỉ là muốn cứu giúp những người Việt Nam đang gặp khốn khổ, bị bách hại dã man, cho những người này có quyền được sống đúng phẩm giá con người và sống theo niềm tin của mình. Đó là nghĩa vụ lương tâm đối với người bị nạn mà sau này chúng ta định danh là những người bị xúc phạm nhân quyền theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ngày 10-12-1948.

   Ngày nay, người ta hiểu rằng không thể đổ lỗi cho một vài vị giáo sĩ nước ngoài hay một ít đồng bào Công giáo Việt Nam là nguyên nhân chính gây nên tình trạng mất nước, như một số quan lại và nho sĩ trong phong trào Văn Thân đã kết án. Sự chiến thắng của người Pháp ở Việt Nam hay của các cường quốc Tây Phương xâu xé Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Nha phiến (1839-1842) là hậu quả tất yếu của một đất nước lạc hậu trước nền văn minh khoa học, quân sự hùng mạnh với ý đồ bành trướng xâm lược của phương Tây. Lịch sử thế giới cũng cho thấy những đất nước nhỏ bé như Nhật Bản dưới triều Minh Trị Thiên Hoàng (Mutsuhito, 1852-1912) hay Thái Lan dưới triều vua Chulalongkorn-Râma (1868-1910) cùng thời với Việt Nam, đã thoát cảnh xâm lăng và đô hộ của phương Tây nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng và nhất là sự đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, dưới ánh sáng đức tin, người tín hữu lúc nào cũng nhận ra, qua những thăng trầm ấy, ý định cứu độ của vị Chúa lịch sử.

   Một số nhà Nho có tâm huyết như Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1872-1926) nhận chân được giá trị của người Công giáo Việt Nam. Các vị đó đã hô hào dân chúng sống tinh thần của người Công giáo Việt Nam: bỏ đi cái học từ chương cổ hủ của Nho giáo, cắt bỏ búi tóc, móng tay, nhận thức rõ mọi người đều là anh em chứ không ai có quyền sinh sát đối với người khác, nam nữ bình đẳng, bỏ chế độ đa thê trong gia đình, học chữ Quốc ngữ và chịu khó mở mang tâm trí cho nền văn minh khoa học Tây Phương. Đây là những điểm cơ bản trong phong trào Duy Tân, Đông Du của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can... Nhưng đó lại là những sự thật mà người Công giáo Việt Nam đã phải chứng minh bằng cả mạng sống mình (x. Một số vấn đề lịch sử, sđd, tr. 78). Phan Bội Châu trong cuốn hồi ký Phan Bội Châu Niên Biểu đã kể rõ tên của một số linh mục, giáo dân và xứ đạo đã giúp đỡ mình. Trong đó ông đã nhắc đến Mai Lão Bạng, quê ở Thọ Ninh, Hà Tĩnh, tháng 3-1908, đã đem vài chục thanh niên Công giáo sang Hồng Kông trong chương trình Đông Du (x. Một số vấn đề lịch sử, sđd, tr. 45.

   Quả thật, người Công giáo Việt Nam không phải chỉ đi tìm một sự sống dồi dào cho riêng cá nhân hay cộng đồng nhưng đã góp phần rất lớn vào sự sống của cả dân tộc.


1. Nhập đề
2. Thời kỳ khai sinh (1533-1659)
3. Thời kỳ hình thành (1659-1802)
5. Thời kỳ phát triển (1885-1960)
6. Thời kỳ trưởng thành (1960 đến nay)



Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn



  In bài này    Lưu dạng file    Gửi bài này qua Email


Những bài khác:



Gửi bài
Lên đầu trang
  Đọc nhiều trong tuần 
Đại chủng viện Vinh Thanh khai giảng năm học 2017-2018
Đức cha Phụ tá Phêrô viếng thăm các giáo xứ tại hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh sau bão số 10
Cáo phó: Thân phụ của Linh mục Giuse Phan Sỹ Phương (quản xứ Tân Lộc), qua đời
Tiền chủng viện Xã Đoài khóa XVI: Khai giảng niên khóa mới 2017-2019
Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli được bổ nhiệm các chức vụ mới

  Tin - bài mới nhất 
Chúa nhật XXV thường niên, năm A: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Phát biểu của Đức TGM Giuse Nguyễn Chí Linh và ĐGM Giuse Đinh Đức Đạo trong ngày Học Viện Công Giáo Việt Nam khai giảng niên học 2017-2018
Cáo phó: Thân phụ của Linh mục Antôn Nguyễn Văn Đức (Bề trên Dòng Thiên An), qua đời
Hồng ân Tuần chầu đền tạ Chúa Giêsu Thánh Thể lần thứ 99 của giáo xứ Gia Hòa
Đức cha Phụ tá Phêrô viếng thăm các giáo xứ tại hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh sau bão số 10
Cáo phó: Thân phụ của Linh mục Giuse Phan Sỹ Phương (quản xứ Tân Lộc), qua đời
Quý thầy Tiền chủng sinh khoá XVI thăm Trung tâm Khuyết Tật Hồng Lĩnh
Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli được bổ nhiệm các chức vụ mới
Khi để mất một loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng, chúng ta đánh mất một công trình của Đấng tạo dựng
Tiền chủng viện Xã Đoài khóa XVI: Khai giảng niên khóa mới 2017-2019
Thánh Giá là nguồn Tình Yêu và Hy Vọng
Nhìn lên Thánh Giá
Chúa nhật XXIV thường niên, năm A: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Sinh viên và dự tu Vinh miền Nam: Chào đón tân sinh viên khai giảng năm học mới
Khoa trưởng Đại học Hoa kỳ bày tỏ lòng cảm phục về phong cách và tinh thần phục vụ của các nữ tu Công giáo

  Hỗ trợ Web GPVinh 

  Nghe Lời Chúa 


  5 phút suy niệm 


  Các Giờ Kinh Phụng Vụ 


  Vị Thánh trong ngày 


  Web Lam Hồng 


  Đăng nhập/Đ. ký 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ

  Giáo Lý - Đức Tin 


  Bác ái xã hội - Caritas 


  Tài liệu mới 
  "Sống Và Yêu Thật Lòng" / Lm. Micae – Phaolô Trần Minh Huy, PSS
  Tông Huấn Amoris Laetitia (Niềm Vui Yêu Thương) của Đức Phanxicô
  Yêu Thương là sứ mệnh của chúng ta - Để gia đình sống dồi dào
  Văn bản Đàng Thánh Giá do ĐTC chủ sự ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 03/04/2015
  Ơn Gọi Và Sứ Mạng Của Gia Đình Trong Giáo Hội Và Trong Thế Giới Ngày Nay
  Đàng Thánh Giá thứ Sáu Tuần Thánh năm Tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ - 2015
  Ơn gọi đời sống thánh hiến: Lắng nghe và đi theo
  Chầu Thánh Thể Tất Niên Giáp Ngọ 2014, Đón Tân Niên Ất Mùi 2015
  Thư Mục Vụ Mùa Chay năm 2015 của ĐGM Phaolô
  Sứ Điệp Mùa Chay 2015 của ĐTC Phanxicô
Xem tiếp...

  Radio Công giáo 



Copyright © 2013 GIAOPHANVINH.NET :: All rights reserved.
Email biên tập: [email protected] || Ban quản trị: [email protected]