GPVMenu

 Phim Công giáo online 

 Lịch Phụng vụ GP Vinh 

 Giờ lễ tại các nhà thờ 

 Quỹ Học bổng NTT 

 Giấy tờ - Chứng chỉ 

 ĐCV Vinh Thanh 


Xem tiếp...
 Gia đình Web Giáo phận 
Lam Hồng (Đức tin & VH)

Phim Công giáo

Thánh Ca Online

ĐCV Vinh Thanh

Hội dòng MTG Vinh

Quỹ Học Bổng NTT

GĐ Thánh Tâm GP Vinh

Doanh nhân GP Vinh

Giáo xứ Bảo Nham

Giáo xứ Hòa Ninh

Giáo xứ Làng Rào

Giáo xứ Nghi Lộc

Giáo xứ Tân Lộc

Giáo xứ Trung Nghĩa

Sinh viên CG Vinh

CĐ Vinh Hà Nội
 Tra cứu bài viết 
Tháng Mười một 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
 <  > 
 Thống kê truy cập 
 Khách: 25
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 025
 Lượt tr.cập 021242276
 Từ điển online 
TỪ ĐIỂN ONLINE

 Bookmark & Share 

website security
 
Chuyên mục » Giáo Hội CG hoàn vũ - Tư liệu 24.11.2017
Lược sử Giáo hội Công giáo (Chương I)
10.05.2008

.

PHẦN I - TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỈ XV


Chương I

GIÁO HỘI THỜI KHAI SINH

I. ĐẾ QUỐC RÔMA

Giáo Hội khai sinh trong lòng đế quốc Rôma, đã bám rễ sâu trong văn hóa của đế quốc này, nơi đã trở thành cánh đồng truyền giáo đầu tiên, từ khi thánh Phaolô nghe tiếng kêu của người Macêđônia (Cv 16,9). Những người rao giảng Tin Mừng không những đã sử dụng địa dư, vật chất do đế quốc cung cấp mà còn sử dụng các phương tiện diễn tả, những hình thức suy tư của đến quốc nữa. Điều này đã để lại dấu ấn cho tới nay. Một môi trường có liên hệ mật thiết với thời khai sinh của Giáo Hội như vậy cần được chúng ta phác họa một vài nét.

1. Tổ chức chính trị hành chính

Thành Rôma được thành lập năm 753 trước công nguyên, đã hoàn tất việc chinh phục Địa Trung Hải vào thế kỉ I trước công nguyên. Đế quốc ra đời năm 27 (tcn) và bắt đầu “thời hòa bình”. Tất cả vùng Địa Trung Hải đều ở trong cùng một thể chế chính trị, hành chính. Đế quốc chia làm nhiều tỉnh. Ở vùng ngoại vi, một vài ông vua còn tại chức, nhưng có ít quyền. Nếu tỏ ra ý muốn độc lập, họ sẽ bị thay bằng những công chức của đế quốc. Triều đại dòng Antoninô vào thế kỉ II (từ Trajanô đến Marcô Aurêliô) đã đưa đế quốc tới cao điểm.

Trong đế quốc, sự thống nhất cơ bản của các xứ vùng Địa Trung Hải không chỉ giới hạn ở vùng đất thị thành, nhưng bao gồm cả vùng nông thôn ngoại thành có liên hệ chặt chẽ với thành phố (Kitô Giáo xưa kia là một tôn giáo đô thị : Côrintô, Thessalônica). Hành khách và hàng hóa có thể lưu thông từ đầu đến cuối đế quốc bằng đường bộ cũng như đường thủy. Các con đường này cũng là những con đường của các học thuyết và Phúc Âm (về đường biển, xem Cv 27,28). Phúc Âm đã được loan báo trước hết ở các hải cảng, dọc các trục lộ giao thông chính.

2. Văn hóa

Đế quốc qui tụ nhiều sắc dân, nhưng các sắc dân đó vẫn luôn bảo tồn các tập tục, ngôn ngữ và văn hóa của mình. Tuy nhiên, có hai ngôn ngữ được bắt buộc sử dụng trên toàn đế quốc : Hi Ngữ và La Ngữ.

Từ sau cuộc chinh phục của Alexandre Đại Đế (356- 323), Hi Ngữ đã trở thành ngôn ngữ chung của toàn Đông Phương. Đây không chỉ là ngôn ngữ của văn hóa và triết học, nhưng còn là ngôn ngữ quốc tế của các thương gia. Nó được biết đến một cách rộng rãi ở Rôma và trong các thành phố lớn của Tây Phương (Tân Ước, các tác phẩm Kitô Giáo viết bằng Hi Ngữ).

La Ngữ là ngôn ngữ của Rôma, sau đó là của Tây Phương, không phổ biến bằng Hi Ngữ, nhưng là ngôn ngữ hành chính và pháp luật trong toàn đế quốc. Trong Giáo Hội, nó được sử dụng trước hết ở Phi Châu từ cuối thế kỉ II, rồi đến Rôma, sau đó trong toàn Tây Phương Kitô Giáo. Khi các kitô hữu sử dụng những ngôn ngữ này thì lối tư duy cũng đã đi vào Giáo Hội. Triết học Hi Lạp đã dùng để xây dựng thần học đầu tiên. Qua La Ngữ, luật Rôma đã cung cấp khung pháp lí cho các cộng đồng thành phố. Khi các khu vực riêng của Hi Ngữ và La ngữ được phân định cứng ngắc vào thế kỉ IV, thì hai khu vực văn hóa của Giáo Hội tiến triển cách khác nhau, cho đến khi Giáo Hội Đông và Tây chia rẽ nhau.

3. Tôn giáo

Trong đế quốc, có những hệ thống tôn giáo rất khác nhau. Những tôn giáo này có thể đối lập với sứ điệp Phúc Âm, nhưng cũng có thể là những “viên đá chờ đợi” mạc khải Kitô Giáo.

Trước hết, có các tôn giáo cổ truyền, chia ra tôn giáo nông thôn và tôn giáo thành thị. Trong tôn giáo nông thôn, người ta thực hành việc phượng tự tự nhiên tôn thờ các sức mạnh huyền bí của thiên nhiên, nhằm bảo đảm sự phong nhiêu của mùa màng và súc vật. Khi nhiều người dân trở lại Đạo vào thế kỉ IV, họ đã đưa nhiều yếu tố của tôn giáo cổ truyền này vào Đạo, cung cấp truyền thống dân gian cho Kitô Giáo. Còn ở các thành thị, mỗi thành của Hi Lạp và Rôma đều có vị thần riêng. Tuy nhiên,, tôn giáo này nhanh chóng chỉ còn là hình thức, không làm thỏa mãn những người có nhu cầu tôn giáo chân chính. Dầu vậy, nhiều người vẫn trung thành với nó, vì đây là tập tục kế thừa của tổ tiên, và theo các hoàng đế, nó là chất keo dính kết xã hội.

Thêm vào những tôn giáo thờ thần, còn có việc tôn thờ Hoàng đế. Đây là một tôn giáo phục vụ chính trị. Ngoài ra, có những trào lưu thiêng thánh hỗn hợp xuất hiện vào đầu kỉ nguyên Kitô Giáo, và tôn giáo của một số trí thức, triết gia (đặc biệt chủ thuyết Khắc Kỉ).

Cuối cùng, không thể không nói đến những tôn giáo thần bí từ Đông Phương du nhập vào Tây Phương. Các tôn giáo này giải đáp được những thao thức hiện sinh của con người đang lo âu và bất hạnh với những nghi lễ khác với tính hình thức của các tế tự cổ. Phổ biến nhất trong số các tôn giáo Đông Phương là tôn giáo thờ thần Isis gốc Ai Cập , thần Mithra gốc Ba Tư, thầnCybêt gốc Phrygia.

4. Xã hội

Một sử gia đã đánh giá nền văn minh Hi - La của 3 thế kỉ đầu là một “hợp tác xã hạnh phúc : coopérative du bonheur”. Thực ra, hạnh phúc này chỉ dành cho một thiểu số được ưu đãi là những nhà quí tộc, những thương gia giàu có. Nói cho đúng, đây là một xã hội tàn nhẫn đối với kẻ yếu, cách riêng đối với người nô lệ. Trong một vài thành phố, 2/3 dân cư là người nô lệ, phải làm việc tay chân nặng nhọc, không có quyền hành gì cả. Thậm chí thời (Nêrô) chủ còn có quyền sinh sát nô lệ. Ngay cả những người tự do vẫn không bình đẳng với nhau, vì có sự phân biệt công dân Rôma với những người khác. Và những công dân Rôma lại còn được chia ra 2 loại tùy theo tài sản và địa vị xã hội, với 2 thể chế công lí khác nhau. Ở Rôma, phần lớn dân chúng sống khổ sở và thiếu thốn. Nền văn minh Hi - La cũng là nền văn minh trọng nam khinh nữ. Phụ nữ chỉ được coi là thứ yếu, bị khinh miệt. Khi thuần phong mĩ tục bị băng hoại, người ta đổ lỗi cho đàn bà. Trẻ em cũng bị coi thường. Người cha có thể từ chối đứa con do ông sinh ra. Khi đó nó có thể bị giết hoặc bỏ rơi.

Nói chung, cơ cấu tổ chức của đế quốc đã tạo nhiều thuận lợi cho việc rao giảng Phúc Âm cách nhanh chóng trong toàn vùìng Địa Trung Hải. Ngoài ra, Phúc Âm đáp ứng được khát vọng sâu xa của con người ở những thế kỉ đầu. Nhất là những người nô lệ, người nghèo, phụ nữ và trẻ em đặc biệt nhạy cảm với sứ điệp của Đạo mới. Đó là một mảnh đất thuận lợi để Kitô Giáo được gieo mầm và phát triển.

II. GIÁO HỘI THỜI TÔNG ĐỒ

1. Giáo Hội ra đời

Vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, khoảng năm 30, ở Giêrusalem, trước đông đảo các khách hành hương Do Thái tụ họp nhân ngày lễ, thánh Phêrô đã công bố cho đồng bào mình Tin Mừng Đức Giêsu, Đấng đã được Thiên Chúa sai đến, đã bị đóng đinh thập giá, nhưng đã sống lại và được Thiên Chúa đặt làm Chúa. Các thính giả hỏi xem họ phải làm gì và được trả lời : phải hối cải, chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha thứ tội lỗi và lãnh nhận Thánh Thần (Cv 2-4). Ba ngàn người đã chịu phép rửa.

Giáo Hội đã ra đời như thế. Những thành viên đầu tiên này của Giáo Hội là người Do Thái tiếp tục cuộc sống của các người Do Thái đạo đức : cầu nguyện ở Đền Thờ, giữ luật, kiêng ăn uống, cắt bì. Họ làm nên như một giáo phái mới của Do Thái Giáo, giữa những giáo phái khác. Nét đặc biệt của họ là : chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu, nghe lời giảng của các Tông Đồ, dự lễ bẻ bánh, và sống thành cộng đồng huynh đệ.

2. Giáo Hội mở rộng

Không bao lâu, những kitô hữu Do Thái có văn hóa Aram hợp lại với người có văn hóa Hi Lạp trong cộng đồng. Những mâu thuẫn xảy ra giữa hai nhóm này. Một toán 7 người (trong đó có Têphanô) được chỉ định phụ trách nhóm Do Thái có văn hóa Hi Lạp. Như thế, cộng đồng tính hữu đã hướng về những người Do Thái sống bên ngoài đất Palestin không trói buộc sứ điệp Phúc Âm với Giêrusalem. Ngoài ra, khi bị bách hại, những người Do Thái Hi Hóa phải bỏ Giêrusalem trốn tới Samari, Antiokia, trở nên những người truyền giáo cho kiều bào Do Thái ở các vùng này (Cv 6-9).

Tuy nhiên, Tin Mừng không chỉ được gửi đến cho người Do Thái, mà là cho mọi người. Qua thị kiến và qua hành vi rửa tội cho gia đình Cornêliô, thánh Phêrô nhận rằng, trên nguyên tắc, không cần phải qua Do Thái Giáo để vào Kitô Giáo, không cần phải là người Do Thái mới có thể vào Đạo. Chính Phaolô, Barnabé, khi rao giảng cho lương dân, cũng không ép họ giữ các phong tục Do Thái. Điều này đi ngược với quan niệm của cộng đồng Giêrusalem, nên xảy ra tranh chấp. Một công đồng được triệu tập ở Giêrusalem để giải quyết vấn đề, và quan điểm của Phaolô đã thắng : Kitô Giáo không bị trói buộc vào Do Thái Giáo. Không ai phải thay đổi văn hóa của mình để đến với Phúc Âm. Giáo Hội thực sự trở nên phổ quát (Cv 10-15).

Không những mở rộng trong quan niệm gia nhập, Giáo Hội còn mở rộng về phương diện địa dư. Trong hành trình truyền giáo lần II qua Tiểu Á, Phaolô đã có một thị kiến về một người Macêđônia xin người tới giúp. Đây là một giai đoạn chủ yếu. Phúc Âm tiến tới Âu Châu bấy giờ là vào năm 50, và một loạt các cộng đồng khai sinh : Philippe, Thessalônica, Côrintô... Trong những cộng đồng này, đặc biệt ở Côrintô, các tín hữu rất phấn khởi, nhiều đặc sủng xuất hiện, nhưng cũng có những chia rẽ nội bộ và lạm dụng. Phúc Âm còn được rao giảng tận thủ đô Rôma nữa (Cv 16-28).

3. Tổng kết thế kỉ I

Trong thế kỉ I, đã có các cộng đồng Kitô Giáo được thành lập từ Giêrusalem tới Rôma. Các cộng đồng ở Tiểu Á thành lập nhờ sự năng động của cộng đồng Antiokia. Các cộng đồng ở Hi Lạp được Phaolô thành lập. Các cộng đồng trong Sách Khải Huyền phát xuất từ ảnh hưởng của Gioan. Còn cộng đồng ở Rôma không rõ do ai thành lập.

Hai biến cố có tính chất quyết định : trước hết là cuộc bách hại của Nêrô mà, theo truyền thống, gây nên cái chết của hai vị Đại Tông Đồ Phêrô và Phaolô cũng như nhiều kitô hữu. Biến cố thứ hai là việc người Rôma phá hủy Giêrusalem năm 70, cả thành phố cũng như Đền Thờ, để dập tắt cuộc nổi dậy của người Do Thái. Việc Đền Thờ bị phá hủy, hoàn tất việc tách người kitô hữu ra khỏi Do Thái Giáo. Qua biến cố này, Thiên Chúa cho thấy luật cũ đã hoàn tất. Biến cố này đồng thời củng cố chiều kích phổ quát của Giáo Hội không còn Đên Thờ, Do Thái giáo đã tự chỉnh đốn lại ở Giamnia (Nam Tel-Aviv), đánh dấu sự đối lập với người kitô hữu. Những kitô hữu nào còn giữ tập tục Do Thái thì từ nay chỉ còn là những nhóm nhỏ, ít nhiều đồng hóa với với các giáo phái.

Trong thập niên cuối cùng thế kỉ, các bản văn ngày nay được gọi là Tân Ước hình thành. Người ta thu tập các thư của Phaolô. Các Sách Phúc Âm mang hình thức cuối cùng của chúng. Nhưng còn phải đợi nhiều thời gian về sau, các cộng đồng mới đồng ý và coi các sách ấy là qui luật đức tin của mình.








  In bài này    Lưu dạng file    Gửi bài này qua Email


Những bài khác:



Gửi bài
Lên đầu trang
  Đọc nhiều trong tuần 
Thánh lễ Tạ Ơn mừng Ngân khánh Giám mục Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên
Hiệp Hội Thánh Antôn Pađôva giáo phận Vinh: Hồng ân Thánh Hiến của 06 tân Khấn sinh và chặng đường 10 năm thành lập
Khánh thành và cung hiến thánh đường Giáo xứ Chày (Quảng Bình)
Kết quả vòng sơ khảo “Cuộc thi hát Thánh ca Giáo phận Vinh 2017”
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa

  Tin - bài mới nhất 
Truyền hình trực tiếp Thánh lễ Truyền chức Linh mục Giáo phận Vinh - 8h00, 24/11/2017
Thiên chức Giám mục trong tương quan với gia đình: Bài giảng lễ Tạ ơn mừng Ngân khánh GM Đức Cha P.M. Cao Đình Thuyên
Bài giảng của Đức Cha Giuse Nguyễn Năng trong Thánh lễ bế mạc Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XV
Chúa nhật XXXIV thường niên, năm A - Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Hà Nội lần thứ XV: Thánh lễ cao điểm và nghi thức bế mạc đại hội
Thăng cấp cho các Đoàn sinh Xứ đoàn Thiếu nhi Thánh Thể Inhaxio Loyola Giáo xứ Song Ngọc
Giáo xứ La Nham và Giáo xứ Tân Phương: Niềm vui Tuần Chầu Đền Tạ Chúa Giêsu Thánh Thể
Giáo xứ Khe Sắn: Mừng trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Nam trong ngày cao điểm Tuần chầu lượt
Ban Caritas Giáo xứ Tĩnh Giang tổ chức khám và phát thuốc miễn phí nhân ngày Thế Giới Người Nghèo
Caritas Vinh hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày thế giới người nghèo
Kết quả vòng sơ khảo “Cuộc thi hát Thánh ca Giáo phận Vinh 2017”
Lễ hội người khuyết tật giáo phận Vinh khu vực Hà Tĩnh lần thứ I
Ủy Ban Giáo dục Công giáo: Thư gửi anh chị em Giáo chức Công giáo nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20.11.2017
Thánh lễ Tạ Ơn mừng Ngân khánh Giám mục Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa

  Hỗ trợ Web GPVinh 

  Nghe Lời Chúa 


  5 phút suy niệm 


  Các Giờ Kinh Phụng Vụ 


  Vị Thánh trong ngày 


  Web Lam Hồng 


  Đăng nhập/Đ. ký 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ

  Giáo Lý - Đức Tin 


  Bác ái xã hội - Caritas 


  Tài liệu mới 
  "Sống Và Yêu Thật Lòng" / Lm. Micae – Phaolô Trần Minh Huy, PSS
  Tông Huấn Amoris Laetitia (Niềm Vui Yêu Thương) của Đức Phanxicô
  Yêu Thương là sứ mệnh của chúng ta - Để gia đình sống dồi dào
  Văn bản Đàng Thánh Giá do ĐTC chủ sự ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 03/04/2015
  Ơn Gọi Và Sứ Mạng Của Gia Đình Trong Giáo Hội Và Trong Thế Giới Ngày Nay
  Đàng Thánh Giá thứ Sáu Tuần Thánh năm Tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ - 2015
  Ơn gọi đời sống thánh hiến: Lắng nghe và đi theo
  Chầu Thánh Thể Tất Niên Giáp Ngọ 2014, Đón Tân Niên Ất Mùi 2015
  Thư Mục Vụ Mùa Chay năm 2015 của ĐGM Phaolô
  Sứ Điệp Mùa Chay 2015 của ĐTC Phanxicô
Xem tiếp...

  Radio Công giáo 



Copyright © 2013 GIAOPHANVINH.NET :: All rights reserved.
Email biên tập: [email protected] || Ban quản trị: [email protected]