GPVMenu

 Phim Công giáo online 

 Lịch Phụng vụ GP Vinh 

 Giờ lễ tại các nhà thờ 

 Quỹ Học bổng NTT 

 Giấy tờ - Chứng chỉ 

 ĐCV Vinh Thanh 


Xem tiếp...
 Gia đình Web Giáo phận 
Lam Hồng (Đức tin & VH)

Phim Công giáo

Thánh Ca Online

ĐCV Vinh Thanh

Hội dòng MTG Vinh

Quỹ Học Bổng NTT

GĐ Thánh Tâm GP Vinh

Doanh nhân GP Vinh

Giáo xứ Bảo Nham

Giáo xứ Hòa Ninh

Giáo xứ Làng Rào

Giáo xứ Nghi Lộc

Giáo xứ Tân Lộc

Giáo xứ Trung Nghĩa

Sinh viên CG Vinh

CĐ Vinh Hà Nội
 Tra cứu bài viết 
Tháng Tư 2018
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30            
 <  > 
 Thống kê truy cập 
 Khách: 31
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 031
 Lượt tr.cập 026638722
 Từ điển online 
TỪ ĐIỂN ONLINE

 Bookmark & Share 

website security
 
Chuyên mục » Giáo Hội CG hoàn vũ - Tư liệu 26.04.2018
Hội Thánh trong tình hiệp thông (2)
01.05.2008

.

HỘI THÁNH TRONG TÌNH HIỆP THÔNG


II. CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG TÁCH BIỆT

Giáo hội Chính Thống

   Đây là một nhóm Giáo hội Đông Phương thuộc truyền thống Byzantine vốn ở trong sự hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội Roma suốt thiên niên kỷ thứ nhất, và tất cả các giáo hội này đều nhìn nhận Thượng phụ Constantinople là giám mục Chính Thống thứ nhất. Bất chấp sự chia rẽ giữa Công giáo và Chính Thống, mà biểu hiệu rõ nhất là sự kiện tuyên vạ tuyệt thông lẫn nhau vào năm 1054, Giáo hội Công giáo vẫn tự xem mình ở trong mối hiệp thông hoàn toàn với các Giáo hội Chính Thống. Theo Vatican II, các Giáo hội Chính Thống “vẫn liên kết với chúng ta một cách hết sức mật thiết” về nhiều phương diện khác nhau, nhất là trong chức giám mục và bí tích Thánh Thể. Các Giáo hội Chính Thống chỉ nhận bảy Công đồng Chung đầu tiên là chuẩn mực cho đức tin của mình, cùng với Thánh Kinh và các Công đồng địa phương khác đã diễn ra trong các thế kỷ sau.

   Các Giáo hội Chính Thống được tổ chức trong khoảng 15 giáo hội độc lập, phần lớn tương ứng với những quốc gia hay từng nhóm sắc tộc. Thượng phụ Constantinople có thế giá ưu việt so với các thượng phụ khác, nhưng thẩm quyền thật sự của ngài chỉ giới hạn trong giáo khu thượng phụ của mình mà thôi. Trong tư cách là lãnh đạo tinh thần của các tín hữu Chính Thống toàn thế giới, ngài đóng vai trò như một đầu mối hợp nhất, và ngài có quyền triệu tập những hội nghị toàn thể các Giáo hội Chính Thống. 

   Mối quan hệ cấp cao nhất giữa các giáo hội đã có những bước cải thiện trong những năm gần đây qua các cố gắng của Thượng phụ Athenagoras I, Đức Gioan XXIII, Đức Phaolô VI và Thượng phụ Dimitrios I. Đức Phaolô VI đã gặp gỡ Thượng phụ Athenagoras 3 lần trước khi vị Thượng phụ này qua đời vào năm 1972. Hành động có ý nghĩa nhất của hai vị lãnh đạo tinh thần này là việc rút vạ tuyệt thông mà hai bên đã áp đặt lên nhau kể từ năm 1054. Việc phát triển mối quan hệ với Chính Thống là ưu tiên hàng đầu của Đức Gioan Phaolô II ngay từ khi bắt đầu triều giáo hoàng của ngài. Cả Đức Gioan Phaolô II lẫn Thượng phụ Chính Thống Bartholomew đều nêu rõ quyết tâm cải thiện mối quan hệ, bất chấp những tranh cãi giữa Công giáo Đông Phương và các Giáo hội Chính Thống về những vấn đề phát sinh tại những nơi mới thoát khỏi sự áp đặt của chính quyền trước đây.  

Các Giáo hội Chính Thống Độc lập

Giáo khu thượng phụ Constan-tinople (ở Thổ Nhĩ Kỳ, Crete, Dodecan, Hy Lạp).

Giáo khu thượng phụ Alexandria (ở Ai Cập, Kenya, Uganda).

Giáo khu thượng phụ Antiochia (ở Syria, Lebanon, Iraq, Australia, Hoa Kỳ).

Giáo khu thượng phụ Jerusalem (ở Israel và Jordan).

Giáo hội Chính Thống Nga (ở Nga, Ukrain, Belarus, Esthonia, Moldova, Latvia).

Giáo hội Chính Thống Serbia (ở Nam Tư, Tây Âu, Bắc Mỹ và Australia).

Giáo hội Chính Thống Romania (ở Romania, Tây Âu và Bắc Mỹ).

Giáo hội Chính Thống Bulgaria (ở Bulgaria, Tây Âu và Bắc Mỹ).

Giáo hội Chính Thống Georgia (ở Georgia).

Giáo hội Chính Thống Cyprus (ở Cyprus).

Giáo hội Chính Thống Hy Lạp (ở Hy Lạp, Hoa Kỳ).

Giáo hội Chính Thống Ba Lan (ở Ba Lan).

Giáo hội Chính Thống Albania (ở Albania).

Giáo hội Chính Thống Cộng Hoà Czech và Slovak (ở Cộng Hoà Czech và Slovak).

Giáo hội Chính Thống Hoa Kỳ (ở Hoa Kỳ).

Các Giáo hội Đông Phương cổ

   Các Giáo hội Đông Phương cổ không phải là các Giáo hội Chính Thống như kể trên, mà bao gồm: Giáo hội Assyria phía Đông (trước đây gọi là Giáo hội Nestoria), Giáo hội Tông truyền Armenia, Giáo hội Chính Thống Coptic, Giáo hội Chính Thống Ethiopia, Giáo hội Chính Thống Syria (đôi khi gọi là Giáo hội Jacobite) và Giáo hội Chính Thống Syria-Malankara ở Ấn Độ.

   Sau Công đồng Ephesus (431), Giáo hội Assyria phía Đông không duy trì mối hiệp thông với thế giới Kitô giáo còn lại. Có lẽ chủ yếu vì lý do chính trị hơn là vì lý do giáo thuyết, Giáo hội này đã không chấp nhận giáo huấn của Công đồng về Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa (đối ngược với quan điểm của Nestorius). Điều đáng ghi nhận rằng vào thế kỷ XVI, một bộ phận lớn các tín hữu của Giáo hội này đã hiệp thông hoàn toàn với Toà Thánh Roma và tạo thành giáo khu thượng phụ Chaldea ngày nay. Đức Mar Dinkha IV, thượng phụ của Giáo hội Assyria phía Đông, trong chuyến viếng thăm của ngài tại Toà Thánh từ 7 đến 9-11-1984, đã nêu yêu cầu rằng người ta đừng gọi Giáo hội của ngài là “Nestoria” nữa, và ngài bày tỏ hy vọng rằng sẽ có một tuyên ngôn chung giữa ngài và Giáo hoàng Roma để diễn tả đức tin chung của hai giáo hội vào Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Nhập Thể, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria.

   Các Giáo hội Đông Phương cổ khác (ngày nay được gọi là các Giáo hội Chính Thống Đông Phương), trong một thời gian rất lâu, đã bị gán là “các giáo hội nhất tính thuyết”. Thật ra, trong thông điệp Sempiternus Rex, Đức Piô XII đã tuyên bố về các anh em tín hữu thuộc các giáo hội này như sau: “Các anh em ấy chỉ đi lạc về phương diện thuật ngữ, khi họ giải thích chi tiết giáo thuyết về sự nhập thể của Chúa. Người ta có thể nhận ra điều này từ các sách phụng vụ và thần học của họ”.

1. Các vị lãnh đạo và học thuyết của các giáo hội Cải Cách

John Wycliff (K. 1320-1384): linh mục và học giả người Anh, đề xướng một trong những ý tưởng cải cách quan trọng gần 200 năm trước Martin Luther, ông cho rằng chỉ một mình Thánh Kinh là chuẩn mực đầy đủ của đức tin. Nhưng John Wycliff chỉ có ảnh hưởng gián tiếp trên phong trào cải cách vào thế kỷ XVI. Ủng hộ niềm tin vào một tín ngưỡng thực tiễn và hướng nội, ông phủ nhận thẩm quyền của giáo hoàng và của các giám mục trong Giáo Hội. Ông cũng phủ nhận sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể, ông chống lại bí tích Hoà giải và chống lại giáo thuyết về ân xá. Gần 20 đề nghị của ông đã bị Đức Giáo hoàng Gregorius XI kết án vào năm 1377. Các sách vở của ông bị cấm phổ biến rộng rãi bởi Công đồng Constance vào năm 1415. Ảnh hưởng của ông mạnh nhất ở Bohemia và Trung Âu.

John Hus (K. 1369-1415): linh mục miền Bohemia và là một nhà giảng thuyết cải cách, đã đưa ra 30 đề nghị và bị Công đồng Constance lên án. Ông bị vạ tuyệt thông vào khoảng năm 1411 hay 1412, và bị thiêu sống vào năm 1415. Những sai lầm lớn nhất của ông liên quan đến bản chất của Giáo Hội và nguồn gốc của quyền bính giáo hoàng. Ông phổ biến một số ý tưởng của Wycliff, nhưng không chấp nhận quan điểm cho rằng chỉ một mình đức tin là điều kiện để được công chính hoá và được cứu độ. Ông không nhận chỉ một mình Thánh Kinh là đủ làm luật cho đức tin, sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể và hệ thống bí tích. Vào năm 1457, một số trong các môn đệ của ông đã thành lập Giáo hội Huynh Đệ, được  xem như cơ chế Tin Lành độc lập cổ xưa nhất.

Martin Luther (1483-1546):  linh mục dòng Augustinô và tiến sĩ thần học, là nhân vật chủ chốt của phong trào Cải Cách. Năm 1517, ông xuất bản tại Wittenberg 95 luận điểm liên quan đến những vấn đề về niềm tin và thực hành của Công giáo. Năm 1520, Đức Giáo hoàng Leo X kết án 41 tuyên bố của ông. Vì từ chối rút lại ý kiến, Luther bị vạ tuyệt thông trong năm sau đó. Luận điểm của ông ảnh hưởng mạnh mẽ đến các thần học gia theo ông sau này. Những tuyên bố về đức tin trong luận điểm của ông được tìm thấy trong cuốn Sách Thoả Ước (1580).

   Học thuyết của Luther bao gồm những điều như sau: Tội của Adam làm hư hỏng bản tính con người một cách triệt để (nhưng không phải một cách trọn vẹn về bản chất), đã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của con người. Sự công chính hoá, được hiểu như là sự thứ tha các tội lỗi và tình trạng trở nên công chính là do ân sủng của Đức Kitô qua đức tin. Đức tin không chỉ liên can đến sự chấp nhận trong lý trí mà còn là một hành động đầy tin tưởng của ý chí. Các việc lành là những điểm thiết yếu đi kèm theo đức tin, nhưng không lập nên công trạng đáng hưởng ơn cứu độ. Về các bí tích, Luther vẫn giữ phép Rửa tội, Sám hối, và Thánh Thể như những phương tiện hữu hiệu của ơn Chúa Thánh Thần. Ông chủ trương rằng trong việc hiệp lễ Thánh Thể, bánh và rượu được truyền phép chính là Mình và Máu Chúa Kitô. Quy luật của đức tin là mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. Ông bác bỏ luyện ngục, các ân xá, và việc khẩn cầu các thánh, và ông chủ trương rằng việc cầu nguyện cho người chết chẳng có hiệu quả gì. Các chủ trương của Luther không hợp với giáo thuyết Công giáo và đã bị lên án bởi Công đồng Trent.

Ulrich Zwingli (1484-1531): linh mục khởi xướng phong trào Cải Cách ở Thuỵ Sĩ với một loạt những bài giảng về Tân Ước vào năm 1519, với những cuộc tranh luận sau đó và với những hoạt động khác nữa. Ông chủ trương rằng Tin Mừng là căn bản duy nhất của chân lý. Ông bác bỏ thánh lễ, bí tích Sám hối và các bí tích khác. Ông phủ nhận quyền tối thượng của giáo hoàng, phủ nhận giáo thuyết liên quan đến luyện ngục và đến việc khẩn cầu các thánh. Ông phủ nhận đời sống độc thân, đời sống đan tu và nhiều thực hành đạo đức truyền thống khác. Quan điểm của ông về hy tế Thánh Thể, vốn rất khác biệt đối với Công giáo, cũng gây ra sự đối kháng không thể hoà giải được với Luther và các môn đệ của Luther. Zwingli bị giết trong một trận chiến giữa các lực lượng của Tin Lành và Công giáo ở Thuỵ Sĩ.

John Calvin (1509-1564): nhà lãnh đạo Pháp của phong trào Cải Cách ở Thuỵ Sĩ. Chủ trương chính yếu của ông là sự tiền định tuyệt đối của một số người được hưởng phúc thiên đàng và một số người khác phải sa hoả ngục. Ông bác bỏ giáo thuyết Công giáo vào năm 1533 sau khi tự xác tín rằng mình có sứ mạng cải cách Giáo Hội. Năm 1536, ông xuất bản lần đầu tiên quyển Những Cơ chế Kitô giáo, một sự trình bày có hệ thống về học thuyết của ông, sau này trở thành kinh điển của thần học Cải Cách để phân biệt với thần học Luther. Thêm vào với các luận điểm cốt lõi của Luther, ông bổ sung sự tiền định tuyệt đối, sự chắc chắn của ơn cứu độ đối với những người đã được chọn, và tình trạng không thể đánh mất ơn cứu độ của những người này. Lý thuyết của ông về Thánh Thể không thể dung hoà được cuộc xung đột giữa Zwingli và Luther và rất khác biệt đối với giáo thuyết Công giáo.

2. Các giáo hội và các phong trào

CƠ ĐỐC PHỤC LÂM (Adventists): gắn liền với niềm tin rằng cuộc trở lại của Đức Kitô sắp xảy ra cho triều đại 1.000 năm công chính. Cùng với chiến thắng của các lực lượng đại diện cho điều lành trên sự dữ trong trận cuối cùng tại Armageddon. Triều đại này sẽ bắt đầu với sự sống lại của những người được chọn và sẽ chấm dứt với sự sống lại của tất cả mọi người khác, và việc khử trừ hoàn toàn sự dữ. Sau đó, người công chính sẽ sống mãi mãi trong trời mới đất mới. Một giấc ngủ của linh hồn diễn ra giữa lúc người ta chết và ngày xét xử. Không có luyện ngục. Thánh Kinh được hiểu theo sát chữ và là quy luật duy nhất của đức tin và việc thực hành đức tin đó.

Phái TÁI THANH TẨY (Ana-baptism): xuất phát ở Saxony hồi đầu thế kỷ XVI và lan nhanh khắp miền Nam nước Đức. Tin rằng phép Rửa chỉ dành cho người lớn mà thôi, phép Rửa của trẻ em không có hiệu lực. Học thuyết về sự soi sáng bên trong của phái này, tức sự hướng dẫn trực tiếp của Thánh Thần trên tín hữu, bao hàm việc bác bỏ giáo thuyết Công giáo về các bí tích và về bản chất của Giáo Hội.

Phái ARMINO (Arminianism): do Jacob Arminius (1560-1609) khởi xướng. Điều chỉnh thuyết tiền định quá cứng nhắc của Calvin. Có ảnh hưởng lớn trên một số hệ phái Calvin.

Phái BÁPTÍT (Baptism): mang danh xưng này vì học thuyết có liên hệ đến phép Rửa. Phái này từ chối làm phép Rửa cho trẻ con và chỉ thực hành phép Rửa bằng hình thức dìm trong nước. Các lãnh đạo là John Smith (+ 1612) ở Anh và Roger William (+ 1683) ở Hoa Kỳ.

Phái CÔNG HỘI (Congregationalists): đề cao sự tự do cá nhân trong các vấn đề tôn giáo; không đòi hỏi sự chấp nhận Kinh Tin Kính như là điều kiện để hiệp thông, quan niệm rằng mỗi cộng đoàn đều tự quản và tự trị. Rogert Browne đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên phái này.

Phái MÔN ĐỆ (Disciples): xuất phát từ một phong trào của thế kỷ XIX và mang khát vọng thống nhất các Giáo hội Kitô giáo. Những nhà thờ của phái này đón nhận mọi người làm thành viên, cử hành Thánh Thể mỗi ngày Chủ nhật, chỉ làm phép Rửa cho người lớn.

Phái METHODISTS: một nhóm tách rời khỏi Liên hiệp Anh giáo dưới sự lãnh đạo của John Wesley (1703 – 1791), dù vẫn giữ một số niềm tin Anh giáo.

Phái NGŨ TUẦN (Pentecostals): phát triển sau năm 1906, gắn liền với hiện tượng nói các tiếng lạ và với kinh nghiệm được thanh tẩy trong Thánh Thần. Vào giữa thế kỷ XIX, kinh nghiệm đoàn sủng bắt đầu được chia sẻ bởi một số thành viên của các giáo hội cổ điển, gồm cả Giáo hội Công giáo.

Phái THANH GIÁO (Puritans): những người cố tìm kiếm sự cải cách Giáo Hội theo khuynh hướng chặt chẽ của Calvin.

Phái TRƯỞNG LÃO (Presbyterians): chủ yếu theo học thuyết Calvin. Gọi là Trưởng Lão, vì tổ chức các giáo hội tập trung quanh Hội đồng các Trưởng Lão. John Knox (K. 1513-1572) lập ra ở Scotland.

Phái HỮU NGHỊ (Quakers): niềm tin đặt chủ yếu vào sự soi sáng thần linh bên trong như là nguồn duy nhất của chân lý và linh hứng. George Fox (1624-1691) là một trong các nhà lãnh đạo của Giáo hội này ở Anh.

Phái THẦN NHẤT VỊ (Unitarianism): một học thuyết của thế kỷ XVI từ chối Ba Ngôi và từ chối thần tính của Đức Kitô. Chủ trương Thiên Chúa chỉ có một ngôi vị. Faustus Socinus là một trong các lãnh đạo của phong trào. 

Phái PHỔ ĐỘ (Universalism): một kết quả của chủ trương Tin Lành tự do hồi thế kỷ XVIII ở Anh. Chủ trương rằng cuối cùng, tất cả mọi người đều sẽ được cứu độ.

LIÊN HIỆP ANH GIÁO (Anglican CommUNI0N)

   Không phát xuất từ ảnh hưởng của phong trào Cải Cách mà là từ sự kiện vua Henry VIII nước Anh (1491-1547) từ chối quyền bính giáo hoàng. Về sau, mới có những thay đổi đáng kể liên quan đến các vấn đề như Thánh Kinh là quy luật của đức tin, về các bí tích, về bản chất của thánh lễ, về thiết lập giáo phẩm. Liên hiệp Anh giáo có 27 giáo tỉnh.


<< Trang trước |




Louis Nguyễn Phúc Kim

Nguồn tư liệu:

- Matthew Bunson, Catholic Almanac 1999, tr. 301-330; 2000, tr. 582-605; 2003, tr. 568-603, NXB Our Sunday Visitor, Indiana.

- NN, Théo: Nouvelle Encyclopédie Catholique, Droguet Ardant / Fayard, 1989.

- Olivier de la Brosse, Dictionnaire de la foi Chrétienne.




  In bài này    Lưu dạng file    Gửi bài này qua Email


Những bài khác:



Gửi bài
Lên đầu trang
  Đọc nhiều trong tuần 
Thư rao về dự định truyền chức Phó tế cho các chủng sinh khóa XII
Ban Truyền thông Xã hội: Thông báo về phiên bản mới của Trang Web Giáo phận Vinh
Chúa nhật III Phục sinh, năm B: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Cáo Phó: Thân mẫu của LM Gioan Baotixita Nguyễn Đình Thục (quản xứ Song Ngọc, Nghệ An), qua đời
Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà mục vụ Giáo xứ Bùi Ngọa

  Tin - bài mới nhất 
Đức Thánh Cha bổ nhiệm Tân Giám mục Chính toà giáo phận Thanh Hoá
Sinh viên Công giáo Vinh: Mừng lễ thánh quan thầy Anselmo
Thánh lễ Cao điểm Tuần Chầu lượt Giáo xứ Quan Lãng: Cầu nguyện cho Ơn Thiên triệu
Hành trình mục vụ cuối tuần của Đức Cha Phêrô
Thánh lễ khai mạc Tuần Chầu lượt và ban Bí tích Thêm sức tại giáo xứ Khe Gát (Quảng Bình)
Thư rao về dự định truyền chức Phó tế cho các chủng sinh khóa XII
Cáo Phó: Thân mẫu của LM Gioan Baotixita Nguyễn Đình Thục (quản xứ Song Ngọc, Nghệ An), qua đời
Ban Truyền thông Xã hội: Thông báo về phiên bản mới của Trang Web Giáo phận Vinh
Văn kiện chính thức “Hướng dẫn Mục vụ Thánh nhạc”
Thông báo về Tuần Tĩnh tâm Linh mục năm 2018
Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô cho “Ngày Thế giới cầu nguyện cho Ơn gọi” lần thứ 55 (năm 2018)
“Một thoáng MEP – Un moment MEP” - Một thoáng để khắc ghi và nhớ mãi
“Một Giáo hội mang thương tích mới hiểu được những vết thương của thế giới ngày nay”
Chúa nhật IV Phục sinh, năm B - Chúa nhật Chúa Chiên lành: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Tuần chầu lượt giáo xứ Hướng Phương: Thánh Thể là Bí tích Tình yêu

  Hỗ trợ Web GPVinh 

  Nghe Lời Chúa 


  5 phút suy niệm 


  Các Giờ Kinh Phụng Vụ 


  Vị Thánh trong ngày 


  Web Lam Hồng 


  Đăng nhập/Đ. ký 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ

  Giáo Lý - Đức Tin 


  Bác ái xã hội - Caritas 


  Tài liệu mới 
  Thư Rao Truyền chức Phó tế khóa XII
  Thư Rao Truyền chức Phó tế khóa 12
  Hướng dẫn Mục vụ Thánh nhạc
  "Sống Và Yêu Thật Lòng" / Lm. Micae – Phaolô Trần Minh Huy, PSS
  Tông Huấn Amoris Laetitia (Niềm Vui Yêu Thương) của Đức Phanxicô
  Yêu Thương là sứ mệnh của chúng ta - Để gia đình sống dồi dào
  Văn bản Đàng Thánh Giá do ĐTC chủ sự ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 03/04/2015
  Ơn Gọi Và Sứ Mạng Của Gia Đình Trong Giáo Hội Và Trong Thế Giới Ngày Nay
  Đàng Thánh Giá thứ Sáu Tuần Thánh năm Tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ - 2015
  Ơn gọi đời sống thánh hiến: Lắng nghe và đi theo
Xem tiếp...

  Radio Công giáo 



Copyright © 2013 GIAOPHANVINH.NET :: All rights reserved.
Email biên tập: [email protected] || Ban quản trị: [email protected]