GPVMenu

 Phim Công giáo online 

 Lịch Phụng vụ GP Vinh 

 Giờ lễ tại các nhà thờ 

 Quỹ Học bổng NTT 

 Giấy tờ - Chứng chỉ 

 ĐCV Vinh Thanh 


_READMORE
 Gia đình Web Giáo phận 
Lam Hồng (Đức tin & VH)

Phim Công giáo

Thánh Ca Online

ĐCV Vinh Thanh

Hội dòng MTG Vinh

Quỹ Học Bổng NTT

GĐ Thánh Tâm GP Vinh

Doanh nhân GP Vinh

Giáo xứ Bảo Nham

Giáo xứ Hòa Ninh

Giáo xứ Làng Rào

Giáo xứ Nghi Lộc

Giáo xứ Tân Lộc

Giáo xứ Trung Nghĩa

Sinh viên CG Vinh

CĐ Vinh Hà Nội
 Tra cứu bài viết 
Tháng Chín 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
 <  > 
 Thống kê truy cập 
 Khách: 29
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 029
 Lượt tr.cập 019671576
 Từ điển online 
TỪ ĐIỂN ONLINE

 Bookmark & Share 

website security
 
Diễn đàn Giáo Phận Vinh 21.09.2017
DIỄN ĐÀN GIÁO PHẬN VINH :: Xem chủ đề - Câu Lạc Bộ

 Chào mừng bạn đến với diễn đàn GIAOPHANVINH.NET


 Xem bài chưa có ai trả lời 
Đăng ký làm thành viênĐăng ký làm thành viên 

gửi bài mới Trả lời chủ đề này DIỄN ĐÀN GIÁO PHẬN VINH -> Truyện, ký, tiểu thuyết, đoản khúc... Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5  Trang kế
 Bạn đang theo dõi chủ đề ở chuyên mục : Truyện, ký, tiểu thuyết, đoản khúc... 
Người đăng Thông điệp
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 07.04.2010    Tiêu đề: Câu Lạc Bộ Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Giới thiệu,
Những ngày ngồi ghế nhà trường, thời khắc biểu hằng tuấn luôn có những môn học lập đi lập lại chán ngắt không sao hiểu nỗi. Giờ đây cọ sát với đời mới nhận ra yêu cầu sâu xa của nó như môn ‘tập viết, tập làm văn”.
Tập viết ; có gì khó đâu, quậy một cái vòng tròn là có ngay chữ “O” thế mà cứ phải tập viết mãi năm này qua năm khác. Lợi ích của nó ngòai cái viết chữ đẹp còn là rèn luyện tính cách nôi tâm.
Tập làm văn ; - với những câu vớ vẫn, - điền thêm vào những chổ trống của câu, - Tả con gà con vịt, thật không ra làm sao? Ấy thế môn học này luôn đồng hành trong cuộc sống như, viết thư, nhật ký, viết văn, vân vân.

Khi con người về bên kia thế giới, thỉnh thoảng người ta kể cho nhau về thân thế sự nghiệp của người đã khuất không có là bao, do câu chuyện quanh quẫn trong gia đình.
Tương tựa như vậy, nhưng được nhắc nhớ nhiều, do anh đã có nhiều công rrình giúp ích cho nhân lọai, trong đó “Văn chương” là loại hình được phổ biến nhiều nhất.

Xin giới thiệu Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo, đặc biệt “Trang Văn” với những cây bút : K.H, Gioan Lê quang Vinh, Trầm Thiên Thu, Lê Nguyễn, Ái Miên, Đặng Xuân Hưởng, Lê Miên Ca, An Thiện Minh, Sông La, Vũ Thủy, A.P Mặc Trầm Cung, Trần Hữu Thuấn, với lời ngỏ của Ban Biên Tập Câu Lạc Bộ này.-
Trân trọng,
ĐNA
CÂU LẠC BỘ
SÁNG TÁC THƠ – VĂN CÔNG GIÁO



TRANG VĂN 2

15/03/2010



SẮC HỒNG TÌNH YÊU


Mùa Chay mùa của Tình Yêu, thời gian như ngừng trôi, con người cũng thường lui vào trong tĩnh lặng để lắng nghe, để đón nhận những cung điệu của tình yêu đang réo rắt mời gọi con người làm một cuộc hành trình về với chính nguồn của tình yêu. Tình yêu đưa tâm hồn con người vào một không gian huyền nhiệm. Trong không gian đó, chỉ có con người đang đối diện với một Tình Yêu Vô Biên, lắng nghe, sám hối, ăn năn và đáp trả.

Bầu khí của mùa chay không u sầu ảm đạm, nhưng ngập tràn sắc hồng tươi thắm của tình yêu, những cung bậc ngôn ngữ của Tình Yêu trong suốt mùa chay thánh này vẫn vang vọng, vang vọng mãi không ngơi.

Cảm tạ Chúa đã yêu thương ban cho nhân loại những khoảng khắc đặc biệt này. Cảm tạ Chúa đã chiếu soi và ban thần khí của Chúa xuống cho tâm hồn chúng con, những tâm hồn đang thao thức lắng nghe tiếng nói của Tình Yêu. Nhờ đó, chúng con mới có khả năng dệt lên những cung bậc cảm nghiệm và tri ân Tình Yêu Chúa qua những tác phẩm trong TRANG VĂN – 02 này.

Nguyện xin Chúa, Mẹ Maria, và Thánh cả Giuse chúc lành và tuôn đổ muôn Hồng Ân xuống cho TRANG VĂN nhỏ bé của chúng con.

Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo
Đồng Xanh Thơ Sài – Gòn


Kính dâng lên Chúa, Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse. Cùng kính gởi đến qui linh mục, tu sĩ nam nữ, anh chị em Vườn Ô Liu và quí độc giả một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả:

Tác phẩm

- Cảm Nhận Ngày Ra Mắt CLB Sáng Tác, tác giả K.H
- Có Một Đồng Xanh Giữa Phố Thị, tác giả Gioan Lê Quang Vinh
- Lạnh, tác giả Trầm Thiên Thu
- Một Giấc Mơ, tác giả Lê Nguyễn
- Có Những Niềm Riêng, tác giả Ái Miên
- Tâm Tình Của Một Chiếc Đinh Trên Khổ Giá, tác giả Đặng Xuân Hường
- Nhủ Lòng, tác giả Lê Miên Ca
- Bụi Gai, tác giả An Thiện Minh
- Xin Hãy Tha Thứ Cho Nhau, tác giả Sông La
- Con Đã Vâng Lời Chúa Chưa? tác giả Vũ Thủy
- Trái Tim Chúa Giêsu Là Lò Lửa Yêu Mến .....tác giả A.P Mặc Trầm Cung
- Thiên Chúa Và Chủ Thuyết Vô Thần Mới, tác giả Trần Hữu Thuần

Kính thưa quí Linh mục, tu sĩ nam nữ, anh chị em VOL và quí độc giả kính mến.
Đồng Xanh Thơ Sài Gòn mỗi tháng phát hành 2 kỳ vào ngày 1 và 15 hằng tháng. Rất mong nhận được sự ưu ái quan tâm của quí vị, đóng góp ý kiến xây dựng cho Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo mỗi ngày được phát triển tốt đẹp theo đường hướng của Giáo Hội, cùng đóng góp bài vở cho TRANG VĂN của chúng ta ngày càng thêm phong phú, các bài văn xuôi của quí vị mang tâm tình ngợi khen Thiên Chúa, diễn tả Tình yêu Thiên Chúa trong cuộc sống, sáng Tình Chúa, đậm tình người đều được Câu Lạc Bộ trân trọng đón nhận.

Bài vở xin quí vị gởi về trước ngày 12 để phát hành số ngày 15 và trước ngày 28 để phát hành số ngày 1 tháng tới. Các bài được chọn sẽ đăng trên trang Đồng Xanh Thơ của website www.dunglac.orgwww.tamlinhvaodoi.net và được gởi đến trên 10.000 địa chỉ mail của các độc giả trong nước và hải ngoại.

Bài vở xin quí vị gởi về:

Hoàng Thi Ca.
Email: [email protected]


Chân thành cám ơn quí vị


CẢM NHẬN NGÀY RA MẮT
CLB SÁNG TÁC THƠ – VĂN CÔNG GIÁO
ĐỒNG XANH THƠ SÀI GÒN

K.H




Sáng Chủ Nhật ngày 28-02-2010 là ngày ra mắt của Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài Gòn .
Theo tinh thần của ngày họp mặt “Đồng Xanh Thơ&Vườn Oliu” tại Tòa Giám Mục Phan Thiết ngày 20-01-2010 . Nhóm Thơ – Văn Công Giáo thuộc GP Sài Gòn tuyên bố sẽ thành lập Nhóm Thơ – Văn Công Giáo tại Sài Gòn với tên gọi “Đồng Xanh Thơ Sài Gòn”.
Mọi người cứ ngỡ rằng, lời hứa ấy rồi sẽ đi theo mây theo gió, hay nhiệt tình lắm thì cũng một thời gian sau họ mới hình thành được những ý nguyện mà ban Tổ chức xem ra rất lấy làm hài lòng .
Nhưng không, nhóm trưởng là anh Mặc Trầm Cung cùng các thành viên Thơ – Văn Sài Gòn thật sự quyết tâm muốn thành lập Nhóm hoặc Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ như dự kiến tại Phan Thiết càng sớm càng tốt, vì họ biết chắc GP Sài Gòn có rất nhiều nhân tài về Văn - Thơ.
Sự kêu gọi suông không thu hút bằng có sẵn một Câu Lạc Bộ cho họ mạnh dạn bước vào … Và nhờ vào Ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, anh chị em Sài Gòn cùng đồng lòng , đồng trí với nhau chọn ngày 28 – 02 – 2010 là Ngày ra Mắt Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài Gòn, vô tình nhằm vào ngày rằm tháng Giêng hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu, đúng là ngày mà xưa nay những nhà Thơ Văn thường ưa thích chọn làm ngày thành lập các nhóm Thi Văn đàn .

Tôi được phân công làm thư ký , và là thuộc thành phần Ban Phụ Trách Câu Lạc Bộ , tôi ráng tranh thủ đến sớm hơn để phụ với các anh chị cho buổi ra mắt được thành công tốt đẹp . Anh Mặc Trầm Cung nhóm trưởng nhà ở tận Hốc Môn đã đến rất sớm cùng với các Phó ban là Bác Hương Quê , Bác Xuân Phúc, Bác Giang Tịnh và chị thủ quỹ Maria Xuyến đã có mặt trước tôi .

Chúng tôi thật hồ hởi và không ít phần hồi hộp. Theo như dự định ban đầu chúng tôi phỏng đoán số thành viên và số khách mời sẽ chừng khoảng 30 người, Nhưng gần đến ngày ra mắt tôi lo ngại số người tham dự tăng hơn, nên email cho anh em xin đặt thêm một bàn ăn nữa là 4 bàn, anh Trầm Cung trả lời:
- Không phải 4 mà đã đặt 5 bàn rồi KH ạ , càng đông càng vui .
Tôi thật sự thấy vui khi nhận được thư trả lời như thế của anh .

Người khách ở xa đến đầu tiên là “Người Làm Vườn Ô Liu” Lê Hồng Bảo. Rồi đến 2 nhà thơ Hương Cảnh và Nguyễn thị Lam của GP Xuân Lộc . Tiếp đến là Nhạc sĩ Cao Huy Hoàng . Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn TTMV Sài Gòn, người đầu tiên nhận lời tham dự và hứa ủng hộ Đồng Xanh Thơ Sài Gòn hết mình.

Đặc biệt nhất là Cha sở GX Nam Hòa cùng Cha phó nhiệt tình giúp đỡ cho bước đầu khó khăn chọn địa điểm tổ chức, Cha cho sử dụng nhà Sinh hoạt của GX và tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho Ngày Ra Mắt Đồng Xanh Thơ Sài Gòn tại GX Nam Hòa .
Khách lần lượt đến :
- Sr Mai Thành
- Cha Inhaxiô Nguyễn Quốc Bảo Phó xứ An Lạc
- Sr Dominic Dòng Đức Bà truyền Giáo
- Cha Guise Trần Trung Hiếu , Phó xứ Nam Hòa
- Anh Khổng Nhuận chủ biên Mạng www.tamlinhvaodoi.net
- TS Trần Mỹ Duyệt cùng vợ là Têrêsa Kim Hà chủ nhiệm website honviet.org .
- Anh Dương Phú Cường, cộng tác viên tamlinhvaodoi.net
- Jos Nguyễn Hữu Đạt , ĐXT Xuân Lộc
- Cha Nhạc sĩ Kim Long
- Nhà thơ Lê Đình Bảng đến kịp giờ khai mạc
- Cha Giuse Trần Văn Lưu Chánh xứ Nam Hòa bận một tý việc đến sau
- Cha Tiến Lộc , có mặt giờ phút cuối để động viên tinh thần Văn Thơ Công Giáo Việt Nam .
- Và các nhà Văn – Thơ thuộc Đồng Xanh Thơ Sài Gòn như nhà thơ Thế Kiên, nghệ sĩ kiêm Thi sĩ Kim Lệ, An Thiện Minh, Quân Tuấn Anh, Lê Miên Ca, Gioan Lê Quang Vinh, Duy Sơn Tuyền, Trầm Thiên Thu. Danube Bleu, Tĩnh Nguyện, Thiên Tâm, Đỗ Khắc Minh Khoa, Vũ Thủy, Thiên Tâm, Phạm Gia Khuê, Vương Lâm Sơn …

9g30’ Anh Mặc Trầm Cung, Trưởng Ban Phụ Trách Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài Gòn nói vài lời Tuyên bố khai mạc .

Tiếp sau đó đại diện ĐXT Sài Gòn là anh Giang Tịnh Phó ban phụ trách, giới thiệu Ý Nghĩa và Mục Đích của việc thành lập Câu Lạc Bộ ĐXT Sài Gòn .
Tiếp theo:

+ Giới thiệu thành phần tham dự

+ Mời Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn phát biểu cảm tưởng

+ Giới thiệu ban Phụ Trách Đồng Xanh Thơ Sài Gòn và các thành viên .

+ Mời quan Khách đóng góp ý kiến , xây dựng. (Nhất là chờ mong sự dẫn dắt của cây cổ thụ trong làng thi ca Công Giáo là thầy Lê Đình Bảng …)

+ Bác Hương Quê Phó Ban, đại diện Câu Lạc Bộ, nói lời cảm ơn quý Quan khách và mời Quan khách cùng toàn Câu Lạc Bộ Đồng Xanh Thơ Sài Gòn dùng bữa cơm thân mật đánh dấu ngày Ra Mắt thật sự thành công.

Tôi chưa hội ý được với anh em, xem anh em đánh giá Ngày Ra Mắt như thế nào? Vì sau khi quan khách về tôi phải tiếp tục một công việc cũng không kém phần quan trọng như Ngày Ra Mắt Đồng Xanh Thơ, với tập thể khác .

Công tác của tôi năm nay có phần bận rộn hơn so mọi năm, nhưng trên đường đi, lòng cảm thấy lâng lâng một sự thích thú khi nhớ lại lời anh Cao Huy Hoàng nói : “Mọi sự Thiên Chúa sắp đặt tất cả, vô cùng tốt đẹp” .

Cha Trần Cao Tường Mạng lưới Dũng Lạc đã email về :

Xin chúc mừng anh em nhóm ĐXT Saigon rất mau mắn và đầy nhiệt huyết. Cứ đà này thì Thơ Văn Công giáo có cơ may phát triển mạnh lên được.

Cách đây hơn một năm ở Mỹ chúng tôi cũng đã tổ chức buổi gặp gỡ có chủ đề Chuyển đạt Tin Mừng bằng Văn học..., ở đại học Boston

Cầu mong Thiên Chúa luôn giúp đỡ cho Văn Thơ Công Giáo Việt Nam mỗi ngày mỗi phát triển như anh Mặc Trầm Cung đã tâm sự:

“Con luôn chỉ muốn là một cung trầm lặng lẽ (Mặc Trầm Cung). Nhưng nếu Chúa muốn con nổi thì con nổi, khi nào Chúa muốn con chìm thì con chìm, chìm hay nổi mọi sự ‘Xin Vâng’ theo Thánh Ý Chúa”.

Điều thích thú bất ngờ là các nhà Thơ trẻ luôn thủ trong mình những tác phẩm đã in ấn thành sách , hoặc các tập Thơ nhỏ để tặng nhau làm lưu niệm :
Lê Miên Ca rất vui vẻ tặng cho Cô KH những bài thơ chưa kịp lên sách của mình .

Đặt biệt tác giả Đổ Khắc Minh Khoa, GX Tân Việt , đã dành cho cô KH một tập thơ đã in thành sách với dòng chữ ghi sẵn ở nhà, tuy là chưa một lần gặp mặt :
“Kính tặng cô KH với lòng quý mến .
Kỷ niệm buổi ra mắt ĐXT Sài Gòn
CN II Mùa Chay 28-02-2010
Tác giả ký tên: Phêrô Đỗ Khắc Minh Khoa .

Nhà Thơ Lê Đình Bảng cũng tặng KH một tập “Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo VN”.

Có phải đây là cách mà Sr Mai Thành vừa nhắn nhủ lại cho ĐXT Sài gòn trong bài phát biểu : “Ngoài Tình Yêu thì không có Ơn Cứu Độ . Nếu chúng ta là người làm thi ca xuất phát từ con tim, thì thi ca của chúng ta tràn đầy Tình yêu, Nếu đi sâu vào Mầu nhiệm tình yêu, tia sáng của Tình yêu đó sẽ xóa bỏ đi được mọi ranh giới …”
Thật sự tôi vô cùng cảm động vì các em vừa giỏi, lại vừa giàu tình cảm .
Có em mới học lớp 6 đã biết làm Thơ “lâu lắm rồi”, do anh Gioan Lê Quang Vinh đưa đến Dự Lễ Ra Mắt để học hỏi thêm, và được trang tamlinhvaodoi hứa sẽ dành cho một góc nhỏ để các em tập sáng tác .

Chưa buổi họp mặt nào có thi vị như buổi họp mặt sáng nay, như một chị quen đang phụ cơm nước cho Cha Sở Nam Hòa nói :
“Thấy cuộc họp hôm nay của chị KH như toàn những người trí thức không hả ?:
Tôi mỉm cười, và ao ước tất cả chúng tôi lúc nào cũng như những người trí thức, biết làm Thơ, làm Văn trí thức, để đưa lời Chúa một cách nghiêm túc, trân trọng vào Văn -Thơ của mình .

Xin Chúa chuyển tải Văn – Thơ của chúng con đến với tất cả mọi người, như những nhà truyền giáo mà Chúa đã mời gọi Họ lên đường .
Sài Gòn Đêm Nguyên Tiêu Canh Dần

K.H


CÓ MỘT ĐỒNG XANH GIỮA PHỐ THỊ

Gioan Lê Quang Vinh



Đẹp như một tấm thiệp xuân và “thơ” như cánh đồng xanh giữa một phố thị rất lộn xộn dù đang tiết Xuân, tập thơ “Xuân Nguyện Cầu” được gửi đến từng người trong ngày hội ngộ ra mắt Đồng Xanh Thơ Sàigòn, câu lạc bộ sáng tác thơ văn Công giáo giáo phận Sàigòn. Sau buổi họp mặt lần thứ II Những Người Sáng Tác Thơ Văn Công Giáo tại Toà Giám Mục Phan Thiết ngày 20/1/20110 do linh mục Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh và nhạc sĩ Cao Huy Hoàng tổ chức tại Phan Thiết, nhóm anh chị em viết văn làm thơ giáo phận Sàigòn đã quyết định thành lập Câu Lạc Bộ thơ văn ngay tại giáo phận nhà.

Buổi sáng ngày 28/2/2010, hơn 20 anh chị em viết văn, làm thơ thuộc Câu Lạc Bộ đã họp mặt cùng với sự hiện diện rất đáng quí của linh mục nhạc sĩ Kim Long, linh mục nhạc sĩ Tiến Lộc và một số linh mục tu sĩ quan tâm đến hoạt động văn chương như cha Luy Nguyễn Anh Tuấn, trưởng ban Mục Vụ Hôn Nhân Gia Đình của giáo phận, các cha giáo xứ Nam Hoà và An Lạc.

Một vị khách mời đã chú ý đến ngày âm lịch và cho rằng vô tình anh chị em đã chọn đúng ngày Nguyên Tiêu để tổ chức lễ ra mắt Câu Lạc Bộ Thơ. Đối với thế hệ trẻ hơn, có lẽ ngày Nguyên tiêu cũng chẳng phải là mốc chính yếu cho lắm, điều quan trọng hơn chính là ở chỗ buổi họp mặt là kết quả của một chuẩn bị xa, từ ngày họp mặt Phan thiết. Và nhất là ngay từ tối 30 Tết, anh Mặc Trầm Cung, chủ nhiệm Câu Lạc Bộ đã ngược xuôi và bỏ hết việc riêng để hết mình vun xới cho cánh đồng thơ này.

Sẽ là không cần thiết nếu trình bày buổi họp mặt với những chi tiết và diễn biến. Nhưng nếu nhìn sâu vào bên trong Câu Lạc Bộ Thơ Văn Sàigòn, người ta có thể cảm nhận được nhiều điều đáng nhớ. Không ai phủ nhận rằng vai trò của văn chương, nhất là thơ, ngày một mờ nhạt đi giữa xã hội vốn còn vô số điều để quan tâm. Một nhà thơ ở Hội Nhà Văn thành phố này có lần nói vui khi anh tặng tôi tập thơ mới: “Thơ của mình biếu chạy lắm”. Nghĩ cũng hay, biếu chạy chứ bán không chạy!

Nhưng thơ văn Công giáo mà anh chị em qui tụ lại để viết, để quảng bá không nhằm để phô trương tài năng hay để bán hay biếu. Mục đích chính của những người làm thơ viết văn Công giáo, như anh Mặc Trầm Cung nêu lên, là tìm “cơ hội gặp gỡ, chia sẻ và giúp đỡ nhau hầu làm phong phú hơn kinh nghiệm sáng tác cũng như đời sống đạo, kiến thức về giáo lý Công giáo và đường hướng của Giáo Hội”.

Quả đúng như thế, nếu ai đã từng nghiền ngẫm Học Thuyết Xã Hội Công Giáo, sẽ nhận ra ngay đường lối của “trung tâm văn bút” nhỏ bé này hoàn toàn đi đúng giáo huấn của Hội Thánh khi đọc trong “hiến chương” Câu Lạc Bộ rằng “…nhờ Con Một Chúa xuống thế làm người, khai mở kỷ nguyên mới. Nhờ đó con người được chạm đến chính Ngôi Lời Thiên Chúa và được sống với Thiên Chúa là nguồn suối trào tuôn niềm hạnh phúc” (lời phát biểu của chủ nhiệm Câu Lạc Bộ).

Đến đây, người đọc đã nhận ra tại sao Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ Văn Công Giáo Sàigòn là Đồng Xanh Thơ Sàigòn. “Lời Chúa chính là hơi thở, là suối mát, là cánh đồng thơ thơm mát mênh mông đủ mọi loài hoa đầy hương sắc”. Linh mục nhạc sĩ Kim Long chia sẻ rằng ngài đến với thơ trước khi đến với nhạc, và chính nhờ Đọc – Suy – Cầu với Lời Chúa mà ngài sáng tác hơn nửa thế kỷ nay.
Mục tiêu tối hậu của những người viết Công giáo là dùng câu chữ của mình để quảng bá Lời Chúa, để đem giáo lý đến cho các em dễ dàng và như cụ Thế Kiên Dominic nói “thơ văn phục vụ sống đạo”.

Thơ ca Công Giáo Việt nam đã có những người làm rạng danh, trong đó có Hàn mặc Tử. Gần đây tập trường ca Tin Mừng “Sứ Điệp Tình Thương” với 9,764 câu thơ đẹp và tài hoa của linh mục nhà thơ Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn đã gây tiếng vang và đi sâu vào lòng người. Những người làm thơ khác hẳn là không nổi tiếng như hai vị ấy, nhưng mục đích chung vẫn là “đem Lời Chúa ghép thành vần (…) như dòng sữa ngọt” để nuôi các tâm hồn lớn lên. (x. Lời Phi Lộ, Sứ Điệp Tình Thương, F.X. Nguyễn Xuân Văn).

Giữa phố thị có một Đồng Xanh Thơ, cũng như giữa dòng đời có suối mát đồng xanh, nơi Chúa là mục tử nhân dũng chăn nuôi đoàn chiên nhỏ bé. Hy vọng rồi đây cánh đồng xanh này ngày càng được nâng đỡ, đáp lại băn khoăn của anh chủ nhiệm Mặc Trầm Cung: “liệu công việc của chúng con hôm nay có được một linh mục nào mạnh dạn ôm ấp?” Thực tế, các websites dunglac.org, đã từng là những mảnh đất màu mỡ cho Đồng Xanh Thơ được chăm sóc.

Lời ca Đồng Xanh Thơ của nhạc sĩ Cao Huy Hoàng vang lên kết thúc buổi họp mặt. Nhưng kết thúc cũng chính là khởi đầu, bởi vì Chúa vẫn tiếp tục dẫn dắt đoàn chiên nhỏ bước đi, tìm thấy nguồn suối và khi đã uống no say, đến lượt mình, đoàn chiên lại chuyển nguồn nước đi xa hơn đến thật nhiều tâm hồn. Và như thế, thơ văn Công giáo không chỉ diễn đạt tâm tình, mà còn là chuyển tải Lời Cứu độ, chuyển tải Công Lý, Sự Thật và Bình An.

Gioan Lê Quang Vinh


LẠNH

Trầm Thiên Thu


Thằng bé đứng xuyên cái nhìn vào trong nhà. Người đàn ông và người đàn bà đang khua múa, lớn tiếng với nhau. Đứa bé trạc tuổi nó cách đây 5 năm đang đầm đìa nước mắt ở một góc nhà.

Sáng hôm ấy, ba mẹ nó đã lớn tiếng làm nó thức giấc. Tưởng ba mẹ bàn chuyện làm ăn, nó lại ngủ thiếp đi. Cảnh êm ấm của gia đình những ngày qua đã đưa nó vào giấc mơ thật đẹp, đẹp như cổ tích.

Bừng tỉnh, cảm giác lành lạnh vây quanh nó. Căn nhà không rộng lắm mà bỗng trở nên rộng rãi khác thường. Hoang vắng. Nó đi khắp nhà. Ba mẹ đi làm sao không đánh thức nó dậy? Nó chợt nghĩ.

Tiếng động trong buồng làm nó nổi da gà. Nhớ lại những chuyện liêu trai đã nghe mẹ kể, nó đè nén tiếng khóc và úp mặt vào tường, tấm tức…

Có cái gì chạm nhẹ vai nó. Nó khóc thét.
- Sao vậy con?
Nó quay lại, rồi ôm choàng lấy ba nó.

Một tuần. Một tháng. Rồi một năm. Nỗi mong chờ, cô đơn. Mẹ vẫn không về. Gà trống nuôi con. Không được tiếp tục đến lớp, nó phải đi bán vé số. Và ba nó…! Phải chăng qui luật “chả-nem”?

Người đàn ông rồ máy xe qua mặt nó. Trời mưa từ bao giờ mà ướt cả xấp vé số trên tay nó! Cảm giác lạnh toát chạy dọc cột sống. Cái lạnh về cuộc sống thiếu tình thương của nó còn lạnh hơn…

Gió mạnh. Bão cấp 13. Nó rùng mình khi nghĩ đến trận mưa roi mà tối nay cô nó sẽ đổ trút lên nó…!

Trầm Thiên Thu



MỘT GIẤC MƠ

Lê Nguyễn

(Thân gửi các anh chị [email protected])


Tôi không phải là một nhân chứng của Chúa nhưng lại được sinh ra trong lòng bàn tay của Ngài. Vì cả một đời tôi phải luôn luôn sống trong khắc khoải đầy lo âu : Ngày mai đây khi chết đi tôi sẽ trả lời với Ngài như thế nào về cuộc sống ở thế gian ,vì hành trang rao giảng mà Ngài trao cho tôi khi còn ở thế gian quá ít hoặc giả như là không có gì ngoài một tấm thân của vật chất đầy tội lỗi Còn linh hồn tôi ư ? Tôi tìm thấy được nó chăng ? Nó không ở trong thân xác tôi nhưng lại ở trong thân xác tôi vì những sự dữ
Rồi đây ai sẽ cứu tôi thoát khỏi cuộc sống tội lỗi này ? Có Chúa trên đầu tôi ! Dù tôi cố tình và hết sức cố tình ca tụng ,tán dương , ca tụng Ngài bằng những lời kinh tri ân ,bằng những câu ca tuyệt vời,bằng những lời tri ân chân thành ! Cảm tạ Ngài bằng những giọt nước mắt rưng rưng nhưng tôi vẫn mãi không cảm nhận được Ngài ở trong tôi . Vì sao thế nhỉ ? Nếu Chúa đến thế gian là để đến với những người tội lỗi thì tại sao Ngài không đến với tôi ?
Có một lần nọ,tôi mơ một giấc mơ kinh hoàng ,đêm đó tôi thật khó ngủ rồi sao đó tôi lại ngủ Trong cơn mê nửa vời ấy tôi thấy cả một vùng tối đen bao trùm nơi thành phố tôi ,trên trời có những vật lạ như những hình người bay qua bay lại trong những tiếng gì nghe rất rợn người Lúc ấy tôi chỉ có một ý tưởng duy nhất là phải trốn chạy thôi . Tôi vượt qua những cảnh ghê rợn vì những xác người và chạy nhanh ra đường quốc lộ nơi tôi ở Trên con đường quen thuộc ấy không một chiếc xe nào và vẫn tối đen một cách kì lạ Nỗi lo vì các cái đang ở với tôi ! Tôi sợ phải bị chết ! Tôi chạy nhanh dưới những hình ảnh và âm thanh rợn người mà không biết phải chạy vào chỗ nào để trốn . Chợt tôi nghe có tiếng người .Nhìn lên trên không tôi thấy một vầng tròn như mặt trăng xuất hiện nhưng trong đó có một như là một vị thần tay cầm gươm , nhìn vào tôi ,mĩm cười và bảo tôi : “qua đi !”Rồi tôi giật mình tỉnh dậy trong nổi sợ hãi kinh hoàng .
Sau cơn mơ ấy tôi không hiểu tại sao tôi lại mơ như thế Đó chỉ là một giấc mộng nhưng tôi có một cảm nhận hình như Chúa đã trả lời cho tôi câu hỏi đời thường là : “Ta vẫn ở bên con mỗi ngày đó chứ !”
Tôi không khẳng điều điều cảm nhận trên là đúng vì đó là do tôi nghĩ nhưng từ đó tôi bắt đầu phải nghĩ một điều mà tôi không dám nghĩ Đó là Lạy Chúa ! Con phải đến sao?....
Lê Nguyễn




CÓ NHỮNG NIỀM RIÊNG

Ái Miên


Dưới ánh đèn nhiều mầu của sân khấu, Á hậu trẻ Vivian tươi cười nhận hoa và giải thưởng. Các ký giả lăng xăng chụp hình, phỏng vấn, nhất là giới Truyền thông Việt Nam. Đây là lần đầu tiên giải Á Hậu của Miss Teen Canada lọt vào tay một cô gái Việt gốc Canada. Vivian là sự hài hòa của nét đẹp Tây phương và Á Đông. Cô đàn hát thật hay, bên cạnh ba mẹ cũng thật đẹp đôi. Ba cô là người Canada, cao ráo đẹp trai, cũng khá nổi tiếng trong giới Thương mại. Mẹ cô là một người Việt khoảng trên 40, nhưng trẻ đẹp hơn số tuổi rất nhiều. Bà là Quản đốc Kế toán cho một hãng buôn bán. Họ trả lời các câu hỏi phỏng vấn thật khéo léo, thông minh. Mọi người đều vui mừng và ngưỡng mộ thành công của gia đình họ. Hằng, mẹ của Vivian - thật chững chạc, khôn ngoan, ăn mặc thanh lịch. Họ ở trong một biệt thự rộng thênh thang, có người làm vườn, giúp dọn dẹp nhà cửa. Họ lái xe sang trọng đắt tiền. Họ có tất cả. Sự thành công của mẹ con Hằng là niềm vui nói riêng cho cộng đồng Việt Nam. Ngày mai các báo chí địa phương sẽ đăng tải hình ảnh, các tin tức liên quan đến cuộc thi Hoa Hậu hôm nay và tâm tình của gia đình Hằng. Ánh đèn sân khấu được tắt, mọi người ra về với lòng hân hoan vui vẻ, chúng ta hãy nghe Hằng kể về cuộc đời của bà.

Tôi rời gia đình và vượt biên năm 18 tuổi - cái tuổi non nớt mới bước vào đời, xa quê hương, xa cha mẹ, phải học hỏi và cố gắng thật nhiều. Cũng may, tôi gặp Minh và có một mối tình đầu đời thật đẹp. Minh chăm học, thành thật. Anh đàn guitar và hát khá hay, với tất cả tâm hồn. Nhưng tôi yêu Minh không phải vì anh đàn hay hát giỏi, tôi yêu sự chân thành dễ thương của anh. Tôi yêu ý chí tự lập, sự cố gắng trong bổn phận. Tôi yêu tính tình thoải mái, dễ tin người, và tôi biết anh yêu tôi thật nhiều. Hơn nữa, chúng tôi đều ra đi một mình, thiếu thốn từ vật chất đến tinh thần, việc đến với nhau để xoa dịu những mất mát, khó khăn trên con đường tị nạn là chuyện dễ hiểu. Minh thích nhạc nhưng không quá ủy mị, tính tình đứng đắn không thích bông đùa. Tôi và Minh hợp nhau, giống nhau ở rất nhiều điểm, chỉ khác ở chỗ tôi thực tế hơn, tính toán hơn, không có tâm hồn nghệ sĩ mơ mộng như anh.

Ngày ở trại tị nạn, chúng tôi hay dắt nhau ra biển chơi. Biển Thái Lan thật đẹp, dù nó đã cuốn trôi bao nhiêu mạng người trên đường tìm tự do, cũng như có nhiều hải tặc khét tiếng. Chúng tôi hay ngồi yên lặng thật lâu trên biển vắng, thỉnh thoảng trao đổi những tâm tình trong cuộc sống, xây dựng tương lai. Minh hay vuốt tóc tôi, thì thầm:
-Anh ghen với gió, với tóc.
-Tại sao?
-Vì gió biển luôn thổi ve vuốt má em, vì tóc em luôn bay, hôn lên mặt em, anh chỉ được ở bên em một lúc nào đó, rồi lại phải ra về. Biết bao giờ anh mới được luôn ở bên cạnh em, che chở yêu thương em.
Tôi cảm động mỉm cười, chọc quê anh:
-Cải lương quá! Thì em cắt tóc ngắn, cho anh khỏi ghen!
-Đừng bao giờ cắt tóc ngắn nhé, tóc em đẹp lắm, em không hợp với tóc ngắn đâu! Em có hay ghen không?
-Có chứ, ghen nhiều nữa là khác, nếu anh hôn em má bên trái, mà quên hôn bên phải, bên phải sẽ giận đó!
Minh vuốt mũi tôi:
-Anh không dám quên đâu, em bé lì lợm bướng bỉnh của anh ơi! Sau khi định cư ở Canada, anh sẽ tìm em, mình sẽ đi học và sẽ cưới nhau, em có chịu làm vợ anh không?
Tôi gật đầu thật nhẹ, lòng thênh thang. Biển chứng giám lòng tôi. Biển lắng nghe lời hứa chúng tôi trao nhau, biển vỗ về cho tình yêu chắp cánh.

Chúng tôi đến Montreal, đi học, đi làm, để dành tiền, cưới nhau. Đời đẹp như bài thơ dù tôi không biết làm thơ. Tình đẹp như bài ca dù tôi không biết hát. Nhưng có Minh đàn hát, đọc thơ cho tôi nghe là được rồi. Anh tài lắm, dù tôi lười biếng nằm trên sofa gối đầu lên đùi anh, anh vẫn có thể ôm đàn và hát cho tôi nghe được. Tôi thích nhõng nhẻo nằm trùm mền trên đùi anh xem TV, để anh đút trái cây cho ăn. Tôi kén ăn lắm, nho thì phải lột vỏ, dù vỏ mỏng tới đâu. Tôi chỉ thích thức ăn mềm, ngọt, lười biếng nhai, lười biếng...nuốt, anh phải luôn vỗ về:
-Ăn giỏi, anh thương!
Cuộc sống êm đềm chỉ được hơn 1 năm thì sóng gió nổi lên. Biển không yên lặng lắng nghe chúng tôi thì thầm yêu thương, vẽ vời tương lai nữa. Biển gào thét trong giông tố bão bùng, từng đợt sóng cao ngất cuốn xô đời chúng tôi vào một ngã rẽ không bao giờ định trước. Tối hôm đó Minh băn khoăn, bồi hồi, thái độ thật lạ. Ngày hôm trước anh nhìn tôi lạ lùng, khó hiểu. Tôi ngạc nhiên hỏi:
-Minh sao vậy, anh có điều gì muốn nói?
Minh hốc hác, tiều tụy, khác hẳn bình thường, anh đột nhiên quỳ xuống trước mặt tôi:
-Hằng, em có thể tha thứ cho anh không?
Tim đập mạnh, tôi hơi mất tự chủ:
-Chuyện gì vậy Minh, đừng làm em sợ!
Minh ngập ngừng:
-Em có nhớ cách đây 2 tháng, anh đi hát cho cộng đồng người Việt ở Ottawa không?
-Dạ nhớ!
-Đêm đó anh ở lại nhà bạn và ngủ tại đó, phải không?
Tôi tròn xoe mắt, xác nhận:
-Dạ phải, anh ở nhà anh Bằng.
Minh đau khổ:
-Đêm đó có thêm một ca sĩ khác cũng ngủ tại đó, cô Phương Thi. Em biết Thi mà.
-Dạ biết, Thi là bạn của anh, hay hát nhạc new wave, nhảy rất hay, em có gặp vài lần.
-Đêm hôm đó anh bị ép uống, say rượu, bây giờ anh chỉ nhớ láng máng chuyện xảy ra, nhưng Thi vừa cho biết cô ta đã mang thai, và cha của đứa bé là ... anh!
Tôi ước gì mặt biển có thể mở ra để cuốn tôi vào tận lòng đại dương, để thực tế phũ phàng không làm nhức nhối trái tim nữa. Nước mắt tôi rơi như mưa, tôi trả lời trong đau đớn:
-Chuyện như vậy mà anh làm được sao? Tôi ghê tởm anh!
Minh đau khổ:
-Anh không biết, anh hoàn toàn có lỗi. Anh có thể xin em tha thứ cho anh không, anh yêu em và không hề có chút cảm tình nào với Phương Thi.
Tôi chua chát:
-Không có cảm tình mà làm chuyện đó được! Đàn ông các anh mà! Ngày xưa ba khuyên mấy chị em tránh lấy chồng nghệ sĩ, em không tin, vì cho rằng có nhiều loại nghệ sĩ, nhưng bây giờ em mới thấm thía!

Tôi vẫn yêu nụ cười trẻ thơ của Minh, vì nó thật hồn nhiên, thật thà. Nhưng bây giờ trước mặt tôi là một người đàn ông xa lạ, hàm râu chưa cạo làm tôi càng thấy rõ sự đểu giả được che dấu lâu nay.

Tôi là người thực tế, rõ ràng. Mặc cho Minh nói gì, đề nghị gì, tôi đều lạnh lùng gạt bỏ. Cũng may chúng tôi chưa có con, cũng may tôi còn trẻ đẹp, tôi giải quyết bài toán cuộc đời thật nhanh chóng. Phương trình có 2 ẩn số, một là Hằng, hai là Thi, đáp số sẽ là Thi, vì còn một đứa con tương lai đang cần cha.

Tôi tìm luật sư lo giấy tờ ly dị, giá cả phải chăng, thủ tục đơn giản vì chúng tôi chưa có nhà cửa, tài sản rắc rối gì. Có lúc tôi cũng mềm lòng và thấy thương Minh vô cùng, như có lần tôi bắt gặp Minh một mình cặm cụi tự may lấy nút áo cho mình. Nhìn Minh vụng về, chịu đựng cầm kim không dám nhờ tôi (Vì sau đêm thú tội trở đi, tôi có nói với Minh tiếng nào đâu!) Tôi xót xa lắm, nhưng tôi mím tôi, ra lệnh cho mình không được ngu dại mà mềm lòng. Không bao giờ tôi có thể tha thứ cho sự phản bội của Minh. Tình yêu không lý tưởng, không hoàn hảo, nhưng cũng không thể tồi tệ như vậy. Tôi rất buồn nôn nếu phải gần gũi chung đụng với Minh. Tôi phải ngẩng cao đầu bước tới cuộc đời, thách đố với định mệnh, tìm cho ra giải đáp khác của phương trình.

Tôi dọn ra riêng và bắt đầu tìm lẽ sống, tìm chỗ dựa cho cuộc đời mình. Tôi không u sầu, nghĩ rằng mình bị chồng bỏ nữa, tôi tiếp tục tập thể dục thẫm mỹ, chăm sóc vóc dáng bên ngoài, học thêm về Kế toán.

Tôi giỏi toán từ bé, làm việc cho công ty tài chánh Montreal, được bạn bè trong hãng thương mến. Người thương mến đặc biệt là Vince, giám đốc của tôi. Vince hay nhìn tôi say đắm, khi biết tôi đã có chồng, anh cười méo xẹo che dấu đau khổ. Tuy không mơ mộng nghệ sĩ nhưng tôi cũng có trực giác của người đàn bà, biết ai thích mình, biết tình cảm nghĩa là gì, biết làm sao để được lòng người khác. Tôi xin gặp Vince tại văn phòng, vừa khóc vừa trình bày chuyện riêng, xin phép nghỉ 2 tuần để lo việc nhà và bớt căng thẳng. Công việc hãng đang thời kỳ cao điểm, nhưng Vince chấp thuận không nài ép. Dĩ nhiên anh tới lui thăm viếng thường xuyên, và tôi đã bằng lòng lấy anh.

Đám cưới chúng tôi khá lớn, vì Vince có tiền và thích được nhiều người biết anh đã lấy vợ. Anh bảo anh luôn ước mơ có được cô vợ Á Đông dịu dàng, khéo léo như tôi. Anh sắp xếp tất cả chu đáo, trước ngày đám cưới, anh chỉ yêu cầu tôi ký tên vào tờ giấy xác nhận không đụng tới tiền bạc, tài sản của anh kiếm được trước đây, nếu có ly dị. Biết là người Canada luôn thực tế như vậy, biết là Vince rất thẳng thắn với những con số, nhưng tôi vẫn thất vọng và đau lòng lắm, dù tôi không cần tiền của Vince. Tới non nước này tôi làm gì được nữa, tôi ký tên mà lòng mặn đắng. Chữ ký vào văn kiện này không ảnh hưởng cuộc đời tôi bằng chữ ký vào tờ hôn thú với Vince, mà sau này tôi mới nhận ra.

Chúng tôi sống tương đối hạnh phúc, Vince rất lịch sự chiều chuộng tôi, nhưng tôi phải vượt qua tập tục của 2 nền văn hóa, của sở thích khác nhau, phải tập nấu và ăn thức ăn Tây với Vince (Tôi vẫn vốn kén ăn). Tôi ép lòng ăn mặc thật đẹp đi với Vince tới những dạ hội sang trọng, ồn ào. Nếu được chọn lựa, tôi chỉ thích ngồi yên ngắm biển cả. Tôi làm việc thật hăng say trong hãng, lên chức thật nhanh không vì sự bảo bọc của Vince, vì tôi đã thuyên chuyển qua chi nhánh khác.

Rồi bé Vivian ra đời. Tôi yêu cháu, sống vì cháu, vui vì cháu. Cháu đẹp, khôn ngoan trước tuổi, nhậy cảm và lãng mạn. Cháu học dương cầm rồi chuyển qua đàn tranh, đàn vĩ cầm, nhạc khí nào cũng giỏi. Cháu biết hát tiếng Việt chỉ nhờ xem phim video, vì tôi không dạy cháu hát được ngoài những bài ca thiếu nhi bập bẹ thuở còn bé. Vince cũng khuyến khích tôi học dương cầm, mướn thầy thật giỏi về dạy riêng cho tôi. Tự nhiên lúc sau này tôi cũng mềm lòng, thích nghe nhạc, thích đàn và hay khóc. Nhưng tôi không học nhạc lâu với Chris được, vì ông không đứng đắn. Ông không nể sợ Vince dù Vince là bạn thân, đã thẳng thắn tán tỉnh, có hành động sỗ sàng với tôi. Tôi nghỉ học đàn với Chris ngay, từ từ sẽ kiếm một bà giáo già cho chắc ăn.

Điều đáng nói là chỉ sau khi lấy Vince chừng vài tháng, Minh đã xin hẹn và gặp riêng tôi tại một quán cafe. Minh cho biết Phương Thi đã tìm được cha ruột của đứa bé, và không bắt tội Minh nữa. Thử nghiệm DNA cũng đã xác nhận chuyện này. Minh xin tôi hãy tha thứ và trở về với anh, anh cần tôi hơn bao giờ. Bài toán rắc rối hơn, đáp số không đơn giản. Tôi suy nghĩ thật nhiều. Bây giờ tôi đã hiểu và thông cảm cho Minh, biết anh chỉ là nạn nhân. Nhưng tôi không thể kiếm chuyện ly dị với Vince được. Tôi hối tiếc cho sự nông nổi, nóng nảy của mình. Tại sao tôi không cho Minh cơ hội, thời gian. Tại sao tôi không nghĩ tới chuyện thử nghiệm DNA. Tại sao không có ai giúp tôi khi tôi phải làm thật nhanh bài toán hôn nhân. Tôi bỗng nhớ ra, vì tự ái, vì hờn ghen, tôi có mở miệng nói cho bất cứ ai biết chuyện của mình để có người giúp đỡ, cho ý kiến đâu. Tôi luôn tin mình thông minh, lanh lẹ và có quyết định đúng. Sự ghen tuông, tự cao, không chấp nhận sai sót đã làm hại tôi thật nhiều. Nếu tôi không biết mình đẹp, nếu tôi có lần vấp ngã và thông cảm với sự thất bại, yếu đuối, chắc tôi đã hiểu biết và dễ dàng tha thứ, chấp nhận hơn - Như thế chắc cuộc đời tôi không đến nỗi khó xử như thế này.

Lúc sau này Vince hay đi vắng, anh say sưa trong công việc, thích đi diễn thuyết về thị trường chứng khoán, về kinh nghiệm tài chánh. Anh rất nhạy bén với thời cuộc, một biến cố xảy ra ở Trung Đông, một chuyện tình lăng nhăng của giới dầu hỏa cũng đủ để làm anh suy luận và đoán biết được giá cả lên xuống của đồng đô-la, của stock. Anh mua, bán stock mê mải và rất may mắn, thành công. Anh đã có tiền, có vợ đẹp, có con khôn, anh cần danh tiếng, thích những tràng pháo tay khen ngợi, cần những bài báo nhắc tới tên anh.

Anh đi vắng ngày thật nhiều, những đêm cô đơn trong phòng rộng, tôi chỉ biết xem phim ca nhạc và âm thầm rơi nước mắt. Có những bài hát trước đây tôi cười, chê là cải lương, là nhạc sến, nhưng bây giờ tôi lắng nghe và thương cảm thật nhiều. Tôi ngạc nhiên thấy mình thích hát, thích thơ, dù ít khi nào ca hát xưa nay. Minh cũng đã trở thành ca sĩ có tiếng, không phải chỉ đi hát thiện nguyện cho cộng đồng như trước đây. Tôi đã khóc thật nhiều khi bắt gặp Minh trên màn ảnh với sáng tác của chính anh:

Một lần lầm lỗi
Mất em suốt đời
Làm sao đủ lời
Để tôi trách tôi...

Tôi bắt đầu khó ngủ, mệt mỏi, không say mê với công việc trong hãng nữa. Vài người bạn khuyên tôi nên bỏ việc công ty, lắng đọng nghỉ ngơi và làm việc thiện nguyện cho cộng đồng người Việt, nhưng tôi còn ngại ngùng lắm. Tôi sợ người ta biết chuyện, tôi sợ người ta cười mình. Tôi ghi danh giúp Red Cross, Daily Food Bank, lòng vẫn còn trống vắng, sợ thì giờ thừa thãi, cô đơn.

Có lần tôi ngủ khó, lăn lộn nên bị té xuống khỏi giường. Vince ôm tôi lên giường, tôi trêu anh:
-Tại anh không ôm em, nên em mới té như vậy!
Vince trả lời rất thành thật:
-Anh muốn ôm em lắm chứ, nhưng em bảo em ngộp không thở được mà.
Tôi giật mình, Vince nói đúng. Trong tiềm thức, tôi đã từ chối sự ôm ấp, ân ái của Vince, tôi chỉ chấp nhận như bổn phận, và tránh né nếu có thể. Tôi vẫn nhớ vòng tay ôm của Minh và thương tiếc cho tình vợ chồng tuy ngắn ngủi nhưng nồng nàn và tràn đầy yêu thương. Trong trái tim tôi, Minh vẫn hoàn toàn chiếm hữu. Tôi hoảng sợ khi nhìn ra vấn đề, và tránh né chính mình thật nhiều. Tôi tiếp tục vùi đầu vào công việc, tôi biết mình có lỗi với Vince, và cố gắng hết sức để tránh xa những c
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 07.04.2010    Tiêu đề: Câu Lạc Bộ "ĐỒNG XANH VĂN" Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(Tiếp theo)

và cố gắng hết sức để tránh xa những cơ hội có thể gặp lại chồng cũ.

Thỉnh thoảng tình cờ gặp Minh, tôi xót xa vì thấy anh gầy còm, đơn độc. Tôi thấy mình quan tâm đến Minh, đến các câu bình phẩm, các bài báo, chi tiết có liên hệ tới Minh. Tôi nửa thích người ta khen anh hát hay, sáng tác giỏi, nửa bực bội vì chắc chắn có nhiều cô, nhiều bà ái mộ anh. Có lần anh hát bài “Say”, MC phỏng vấn anh, anh trả lời từ lâu và có lẽ đến hết cuộc đời, anh sẽ không bao giờ đụng tới 1 giọt rượu nữa. Tôi tin Minh rất thật lòng trong việc này, và tôi lại khóc. Tôi chiến đấu khổ sở với chính mình, tôi ra lệnh cho tôi không thể gây thêm rắc rối, khó xử. Bài toán cuộc đời phải chính xác hơn, tôi phải chịu trách nhiệm về việc làm, quyết định của mình, dù niềm đau có về vô tận.

Vivian đã lớn, có xe riêng (quà sinh nhật của Vince cho con), có cuộc sống riêng, không cần tôi đưa đón nữa. Dù gần gũi cháu nhưng tôi vẫn thấy mình mất mát, xa cách cháu dần. Vi thích ca hát, thích sinh hoạt với hội học sinh Việt Nam trong trường. Một ngày Vi hỏi tôi về sự tích Trọng Thủy & Mỵ Châu. Tôi say sưa kể cháu nghe thiên bi hùng sử này, về tình yêu trong hoàn cảnh chiến chinh, về chữ Tình và chữ Hiếu, về sự trăn trở của Trọng Thủy khi nhảy xuống giếng tự tử. Tôi vô cùng sửng sốt khi Vivian nói với tôi:
-Mẹ ơi, nếu có cái giếng ở đây, con cũng muốn nhảy xuống mà chết!

Thì ra Vi đã thầm yêu một bạn trai VN trong trường - Chấn lại chính là cháu ruột của Minh. Thế giới đông người, nhưng sao lại quá nhỏ bé. Chấn không yêu Vi, Chấn chỉ thích 1 cô gái VN khác trong lớp, và cô gái này đã được chọn đóng vai Mỵ Châu với Chấn là Trọng Thủy. Vi đẹp, khôn ngoan, giỏi tiếng Việt, nhưng Vi không thể đóng vai Mỵ Châu được vì Vi là một đứa con lai. Tôi khóc với Vi, tôi đau khổ với Vi, tôi hiểu yêu thương là gì, tôi biết thất vọng có thể dẫn tới những hậu quả nào. Tôi khuyên can, an ủi cháu thật nhiều. Hy vọng thời gian và sự trưởng thành sẽ giúp Vi.

Cuộc sống sao quá nhiều phức tạp, đau khổ. Vi có tất cả, nhưng Vi lại thua thiệt trong tình yêu đầu đời. Nhìn bên ngoài, ai không thấy Vi là một cô gái tràn đầy may mắn, hạnh phúc? Một đứa bé xấu hơn, nghèo hơn, kém thông minh hơn chưa chắc đã phải nghĩ tới cái chết. Tình yêu nghĩa là gì, đau khổ bắt đầu từ đâu? Vật chất đem lại được gì cho hạnh phúc? Thử thách dẫy đầy, chuyện rắc rối sẽ không biết từ đâu đưa tới, biển có bao giờ ngưng tuôn sóng vỗ, mênh mông? Con thuyền đời có bao giờ luôn mãi dừng ở bến bờ bình an, hạnh phúc. Làm sao để sống tốt, cho nhau niềm vui trong hoàn cảnh hiện tại, giúp nhau sống còn qua những khó khăn, thử thách...

Tôi và Vi bắt đầu tìm hiểu về Chúa, học về sự thứ tha, hy sinh, chăm chỉ đi nhà thờ, tìm sự an ủi nơi Đấng Toàn Năng. Tôi cũng đọc sách Thiền, tập hạn chế lòng sân si, thích câu hát “yêu người độ lượng”.

Tôi đã trưởng thành và chấp nhận cuộc sống hiện tại. Tôi không thể làm Vince đau lòng, tôi không thể làm Vi chấn động, Vi cần một người cha, cần một mái ấm gia đình. Tôi không còn chọn lựa nào khác. Tôi có đi tìm, bài toán cũng không thể có đáp số thứ hai. Vi sẽ quên đi tình cảm đầu tiên kém may mắn. Cuộc đời còn lâu còn dài, còn biết bao điều phải suy nghĩ, phải chấp nhận, và sẽ còn nhiều cơ hội. Tôi sẽ dạy để cháu hiểu nhiều về sự tha thứ, lòng thông cảm, và ước mong cháu có được cuộc sống thật đẹp, thật tốt, dù cháu có lãng mạn và yêu người nghệ sĩ.

Mỗi khi rảnh rỗi, tôi hay ngồi một mình bên dòng sông vắng gần nhà để nhớ về biển, về Minh, về tình yêu một đời không bao giờ tàn phai trong trái tim chúng tôi. Tôi thật sự mong Minh tìm được một người vợ, một người yêu khác để Minh sống vui quãng đời còn lại. Tôi mỉm cười và tin mình không còn ghen tương, nông nổi nữa. Hãy học lấy tình bao dung, thứ tha của Chúa. Hãy thả lòng mênh mang như biển, để nước cuốn trôi đi những tị hiềm, ghen tức. Nếu tôi có khóc, cũng chỉ là những dòng nước mắt thương yêu, để thương cảm cho cuộc đời, để hiểu rằng con người còn đầy yếu đuối, cần được đỡ nâng. Tôi cố gắng làm việc thiện nguyện, vui trong bổn phận, giúp đỡ mọi người, góp phần bé nhỏ làm cuộc đời đẹp và có ý nghĩa hơn, dù trong hoàn cảnh nào.

Hơn 20 năm sống trên xứ người, trước những câu phỏng vấn về sự thành công trong tiền bạc, sự nghiệp, cách làm việc, tôi đã trả lời rất trôi chảy, sáng suốt. Chỉ đôi khi tôi tự hỏi lòng mình, mình đã thật sự thành công hay thất bại, nếu có thể làm lại, undo một việc trong đời, tôi sẽ làm việc gì. Câu trả lời chỉ riêng tôi biết....

Ái Miên




TÂM TÌNH CỦA MỘT CHIẾC ĐINH
TRÊN KHỔ GIÁ.

Đặng Xuân Hường


Đã hơn hai ngàn năm qua, thế giới loài người sau khi đã đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá, hầu như phần lớn họ đã quên mất nỗi đau của Chúa Giêsu. Còn riêng tôi, chính là một trong những cái đinh đóng vào chân tay của Đấng Cứu Thế, tôi không bao giờ quên được sự đau đớn Ngài phải chịu.

Tôi luôn áy náy, lo âu trong lòng vì biết mình đã “dự phần” vào việc giết Đấng Cứu Thế. Sự thực, thì anh em nhà tôi không tự mình can dự vào việc đóng đinh được. Con người đã làm việc đó!

Tôi và hai người em thì hơi khác với trăm ngàn cái đinh được con người làm ra để xây dựng nhà cửa, công xưởng, cầu đường…Con người xử dụng chúng tôi vào chỗ nào, thì chúng tôi dầu muốn dầu không cũng đành phải chấp nhận.

Tôi nói anh em tôi hơi khác, vì ba anh em tôi ra đời chỉ có mục đích đóng tay chân nạn nhân vào thập giá, và thật đau khổ cho tôi, lại ra đời đúng vào lúc con người đem Chúa Giêsu đi để giết Ngài.

Tôi biết rõ chuyện này, vì cái ngày mấy người thợ rèn nói chuyện với nhau về việc làm ra những chiếc đinh, họ cũng có tâm trạng như tôi. Họ là những người dân lao động, sống nhờ vào công việc, nhưng chính họ cũng mong là những chiếc đinh họ làm ra, sẽ không được dùng vào việc đóng đinh Chúa Giêsu. Chính nhờ câu chuyện của họ, tôi mới biết là có một Đấng Cứu Thế đã ra đời, và oái oăm thay, người ta lại sắp sửa đem Ngài đi giết!

Tôi nghe họ nói, mà trong lòng lo lắng, chẳng biết thân phận mình sẽ trôi dạt nơi nào, và sẽ chứng kiến ai chết đây? Thầm mong mình sẽ không được dùng đến trong dịp này.

Những ngày chờ đợi đối với tôi thật là ngắn ngủi. Nằm yên trên kệ nghe mấy người dân nghèo khổ nói chuyện về Chúa Giêsu.

Thành phố Giêrusalem và các vùng phụ cận rất sôi động trong dịp này. Cả Hêrôđê của dân Do-Thái, lẫn Philatô của Rôma, chẳng ai muốn ra tay giết Chúa Giêsu cả, ấy vậy mà chính dân chúng lên tiếng đòi phải giết Chúa Giêsu cho bằng đuợc.

Dân chúng, nhiều người đã từng được ơn lạ của Chúa Giêsu chữa bệnh, từng được nghe lời giảng dạy giản dị nhưng đầy ý tưởng cao siêu của Ngài, mà rồi đành lép vế trước sức ép của đông đảo quần chúng bị xách động bởi đám Kỳ mục, Trưởng lão! Và nhất là mấy ông Thượng Tế! Họ như điên tiết lên khi nghe Chúa Giêsu xác nhận: chính Ngài là Đấng Cứu Thế! Chẳng hiểu họ biết về Kinh Thánh như thế nào, mà Đấng Cứu Thế hiển hiện trước mắt họ, họ lại đòi đem đi giết!

Cái ngày mà tôi biết rõ câu chuyện nhất, đó là ngày người thợ rèn, xếp chung ba anh em tôi lại một chỗ. Ông ta mân mê từng cái đinh trong tay và nói với người nhà:

-Tụi nó là đồ điên! Cái thằng đầu trộm đuôi cướp Baraba phố này ai chẳng biết. Vậy mà khi nghe quan Tổng trấn hỏi tha ai, Baraba hay Giêsu, thì cả đám hả họng la to : “Tha Barara! Giết Giêsu!”

Một người đáp lại:

-Thực là khó hiểu, nghe đâu như một môn đệ của Ngài đã dẫn mấy tên tay chân của các vị Kỳ lão, Thượng tế đi bắt Ngài. Rồi sau đó hắn lại tự treo cổ lên!

Người khác góp ý:

-Dân đen như mình thì đành chịu ! Những người có quyền họ nắm trong tay mạng sống người khác, vậy mà họ cũng không hết lòng can thiệp thì nói gì đến chúng ta.

Tôi biết là chuyện không ổn rồi! Ông thợ rèn xếp đến ba bộ đinh nằm một chỗ, có lẽ theo lời đặt hàng của một viên chức trong đám Kỳ lão. Vậy là có đến ba người sẽ ra pháp trường hôm đó.

Chuyện gì phải đến là nó sẽ đến. Tôi và mấy anh em được một viên chức đến nhận, bỏ vào túi xách mang đi. Từ lúc ấy, tôi biết ngày giờ cuối cùng của tôi cũng sẽ đến. Tôi nói ngày giờ cuối, là vì thường thường sau khi dùng tôi xong, họ sẽ vất đi, chẳng ai lại đem cất một chiếc đinh đã được dùng để đóng vào thập giá, giết chết một con người!

Nằm trong túi xách đi theo đoàn người ra pháp trường. Tôi được biết là ngoài Chúa Giêsu, còn có hai tên trộm cướp nữa. Tôi thầm mong là sẽ được đóng vào tay chân một trong hai tên đó. Tụi đó mới đáng đóng đinh, còn như Chúa Giêsu, từ lúc tôi được hình thành, các câu chuyện tôi nghe biết về Ngài, đều là những điều tốt lành Ngài làm cho dân chúng quanh vùng này cả. Bao nhiêu người ghé qua nhà người thợ lò rèn, đều tỏ ý buồn, thương tiếc Ngài!

Trên đường đi, tôi nghe những lời nhục mạ Chúa Giêsu mà cảm thấy buồn. Đây là những lời của những kẻ có cuộc sống hiểu biết. họ có kiến thức học vấn hơn những người nghèo khổ. Đối với tôi, tôi tin lời những người dân nghèo khổ như người thợ rèn làm ra tôi, hay là những người hàng xóm đến sửa cái dao, đập lại cái lưỡi cày, vá lại tấm lưới… Họ là những người dân hiền lành, chất phác. Họ nhận biết được cái hay cái tốt, người lành kẻ dữ qua trái tim của họ! Nhưng có lẽ họ cũng như tôi, biết thì biết vậy, nhưng làm gì được!

Tôi nghe những tiếng chửi rủa xen lẫn lời nói giục giã Chúa Giêsu, hình như Ngài đuối sức lắm không đi vững nữa, vấp ngã mấy lần. Bọn lính thật tàn nhẫn, làm sao một người chịu đòn vọt đến bầm dập cả thân mình lại có thể vác một cây thập giá đi hết khoảng đường lên núi Sọ. Cũng may cho Ngài, sau đó có một người khác giúp Ngài vác thập giá đi đến hết quãng đường còn lại.

Dọc đường có biết bao người dân quê nghèo khổ khóc thương Ngài. Có một bà còn cả gan đưa khăn cho Ngài lau vì máu chảy đầy mặt, chẳng biết lính có làm khó dễ gì bà không?

Lên được đỉnh đồi, bọn lính để mấy cây thập giá nằm ra, rồi đặt mỗi người lên một cây, sau đó một người xách cái túi đinh lên. Tôi thầm ước mong mình sẽ không phải đau đớn nhìn một người hiền lành vô tội chết oan ức! Người đó lại là Đấng Thánh!

Nhưng than ôi! Cả mấy ngày lo âu, cả mấy ngày hồi hộp đợi chờ, lại trở thành sự thật. Tên lính cầm túi xách thảy tôi và hai đứa em vào chỗ thập giá của Chúa Giêsu. Đây là lần đầu tiên tôi “cảm thấy Ngài”. Tôi nói “cảm và thấy”, bởi vì từ trước tôi chỉ nghe loáng thoáng về Ngài, hiểu chút ít về Ngài, nhưng khi tôi bị ném tới gần một người đang nằm trên thập giá, thì tôi biết chắc đây là Chúa Giêsu. Khuôn mặt hiền từ, khắc khổ, và có vẻ rất chiụ đựng của Ngài khiến tôi dễ nhận ra, nhất là cái mão gai quái ác mà tôi đã được nghe nói. Khắp cả thân hình Ngài đầy những máu!

Tôi thì thầm với Ngài, xin đừng buồn tôi, vì chính tôi sẽ gây đau đớn cho Ngài. Tôi sẽ cố thu nhỏ mình lại, tôi rán cầm trí mình để chân tôi đâm thâu tay ngài một cách nhẹ nhàng. Tôi ước mong sự nhẹ nhàng của tôi sẽ bù đắp chút nào cho những lời nhục mạ, những lời chửi rủa nặng nề từ những kẻ vô lương tâm. Nhưng khi tên lính cầm chiếc búa giáng vào đầu tôi, thì trời đất quay cuồng, tôi nhắm mắt định thần để chân tôi “xuyên qua” bàn tay Ngài. Tôi biết Ngài đau lắm!

Mấy người thợ đóng cây thập giá chẳng ý tứ gì cả, họ chỉ biết làm ra cây thập giá, mà chẳng màng người bị đóng đinh giăng cánh tay ra có vừa vào cái lỗ họ khoan sẵn không! Họ chỉ độ chừng mà thôi, cũng như chính họ cũng đã độ chừng Chúa Giêsu không phải là Đấng Cứu Thế, cả hai đều trật lất. Họ đã phải kéo hết sức bàn tay còn lại của Ngài mới tới được lỗ khoan. Cái trật lất này gây thêm đau đớn cho Ngài rất nhiều!

Nhưng họ có biết đâu rằng: cái trật lất độ chừng Ngài không phải là Đấng Cứu Thế, rồi đem đi giết lại gây đau đớn cho cả trời đất, cho cả loài ngưòi, cho cả những vật vô tri vô giác như tôi nữa!

Đau đớn thêm cho Ngài, một trong hai thằng ăn trộm chẳng biết hối lỗi lại còn nói với Ngài:

-Tôi nghe nói Ngài làm nhiều phép lạ, tự xưng là Đấng Cứu Thế, vậy sao không xuống khỏi thập giá, rồi đem tôi xuống với!

Câu trả lời của thằng bên kia có lẽ làm cho Ngài vui lòng, mà chính tôi cũng thấy an ủi cho Ngài lắm, đến nỗi Ngài hứa với hắn là sẽ mang hắn lên Thiên đàng cùng với Ngài.
Giờ phút làm tôi cảm động nhất, là lúc có một môn đệ của Ngài dẫn một người đàn bà tới nói chuyện với Ngài, dù chỉ nói mấy câu, nhưng sau đó tôi biết đó chính là Bà Maria, Mẹ ruột của Ngài. Tôi cảm thấy Bà Maria cũng đã kiệt sức, tôi nghĩ chắc Bà cũng đau đớn như Ngài, Mẹ nào mà chẳng đau lòng nhìn con chết tức tửi như thế!

Tôi nghe Ngài cầu nguyện xin tha thứ cho những kẻ giết Ngài. Thật là chuyện không thể tưởng tượng, ngoài trí hiểu biết của con người. Có lẽ chân lý là ở đó, Ngài đã theo Thiên ý đến cùng, đúng với danh hiệu “Đấng Cứu Thế!”
Suốt cả ngày hôm đó, thân tôi ghim trong hai bàn tay, hai bàn chân của Ngài, tôi cảm nhận được từng hơi thở, từng cơn đau đớn, từng nỗi thất vọng của Ngài. Có lúc tôi nghe Ngài rên-rỉ:
-Cha ơi! Sao Cha bỏ con một mình!

Tôi biết Ngài quá đau đớn, vì như tôi mà còn cảm thấy rúng động, thì huống gì Ngài, cũng thân xác như mọi người. Tôi đã nghiệm ra rằng: Ngài là con Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài, vậy mà Ngài chấp nhận cái chết hết sức thương đau! Chết để cứu linh hồn đám ngưòi mang Ngài ra đây, trên ngọn đồi này rồi dùng tôi đóng Ngài vào thập giá!
Tôi cũng chứng kiến giờ phút cuối của cuộc đời Ngài. Có lẽ từ xưa tới nay và sau này không ai còn thấy một hiện tượng xảy ra như ngày hôm ấy nữa. Tôi cứ tưởng là trời đất sụp đổ trong giây phút đó!

Những người lính gác hốt hoảng la nhau:
-Ông này đúng là Con Thiên Chúa rồi!
-Giết lầm người vô tội rồi!


Bây giờ họ mới nhận biết, nhưng đã muộn, Ngài tắt thở ra đi!
Tôi rán sức nâng Ngài, vì lúc này tôi mới cảm thấy nặng. Có lẽ lúc chưa tắt thở, Ngài đã gượng đứng để tôi khỏi mỏi mệt cũng nên.

Ôi! Tấm lòng của một Đấng Cứu Thế! Ngay cả như tôi, Ngài cũng đã để lòng quan tâm!

Cho đến khi các môn đệ Ngài tới, có cả Bà Maria nữa. Các môn đệ Ngài cẩn thận, tháo tôi ra khỏi tay ngài, đỡ Ngài xuống khỏi cây thập giá. Họ vất tôi ra đất rồi lo việc tẩm liệm chôn cất Ngài.

Tôi nằm im lìm nơi bãi đất hoang từ đó, nơi pháp trường này và chứng kiến rất nhiều cái chết của nhiều người khác. Nhưng chẳng bao giờ tôi sống lại được giây phút cùng với Ngài trên thập giá nữa.

Người ta đã gọi cây thập giá là Thánh giá, gọi hầm mộ chôn cất Ngài là Mộ thánh, nhưng còn tôi, cái đinh đâm thâu qua bàn tay và chân Ngài, cái đinh làm cho Ngài đau đớn thêm, cái đinh góp phần gây ra cái chết của Ngài, cái đinh có vấy máu của Ngài, chưa có ai lại gọi tôi là Thánh cả!

Tôi vẫn âm thầm đau khổ, tôi chỉ mong Ngài, Chúa Giêsu, là Đấng Cứu Thế thông cảm, tha thứ cho tôi.

Đặng Xuân Hường



NHỦ LÒNG

Lê Miên ca


Mùa chay đã về rồi sao? Chúa muốn nhắn ta điều gì?

Để đón Ngài!
Bằng cách nào...?
Ta và lòng ta đối thoại trong ngút ngàn nỗi băn khoăn, ngu ngơ và khờ dại....

Tiếng chuông nhà thờ ngân vang, thúc vào mây trời, cuộn cùng gió, luồn vào tứng con phố nhỏ, rồi len khẽ vào căn gác trọ ta đang nằm... Làm lòng ta se thắt lại... im lìm cuộc giằng co giữa ta và chính mình.
Bỗng dưng lúc này ta cần sự yêu tĩnh hơn bao giờ hết. Một khoảng không gian yên tĩnh hẳn hoi chứ không phải chớp nhoáng chụp giựt, giỡn đùa ... bỗng dưng ta thèm khát điều đó.
Cần yên tĩnh để thấy cuộc đời mình lăn tròn trên gai nhọn của số phận mà Ngài đã sắp đặt từ rát lâu trong bụng mẹ. Cần yên tĩnh để nhìn những gì đã qua. Rồ ta thấy trái tim mình đầy những đắng cay và những nỗi đau còn trầy trụa.

Tình yêu, cuộc sống, những va chạm đời thường... đủ thứ! Làm ta bao lần quỵ ngã giữa những sự giễu cợt khinh khi của số phận...

Giờ đây ngẫm lại, ta thấy Ngài sắp đặt tất cả.
Ta lướt mình luồn khẽ qua những nỗi đau mà ta bắt gặp lại lúc này.
Nhẹ nhàng thôi, nỗi đau nhé!
Ta không dừng chân lại, nước mắt trào tuôn, miệng mỉm cười!
Mỉm cười! Phải! Ta vẫn mỉm cười. Cho dù bất cứ điều gì xảy đến, ta vẫn mỉm cười, vì Ngài đã an bài cho ta mọi thứ trên con đường đầy chông gai, cám dỗ....

Ta luôn nhắc mình như thế, viết đi viết lại nhiều lần trong trí để tự nhủ ta phải luôn mỉm cười, phải che giấu nước mắt, để ta thấy đời vẫn vui tươi và mọi người quanh ta cũng cảm thấy vui tươi.

Ta luôn ngẩng mặt lên mỗi khi sắp khóc, ta mỉm cười để nước mắt đừng trào theo dòng chảy đau đớn. Và đến hôm nay, tâm hồn ta chợt tím, ở nơi này một mình, tâm hồn ta quằn quại... gục đầu ... ăn năn!

Mùa chay Ngài thả vào hồn ta biết bao nhiêu ân tình.
Ta nhỏ lệ ăn năn, mảnh linh hồn ta dường như cũng rũ tím...
Ngài mỉm cười... Hồng ân tuôn đổ trên ta...

Lê Miên ca



BỤI GAI

An Thiện Minh

Có một bụi gai mọc trên vùng đất cằn cỗi. Nơi chỉ có cát nóng và sỏi đá. Cây xanh và hoa cỏ hình như không thích sống tại đây nên đã rủ nhau đi hết, chỉ còn lại bụi gai kiên cường với hoàn cảnh.

Ban ngày, ánh mặt trời rọi chiếu như thiêu đốt và ban đêm, khí lạnh tràn về buốt xương tuỷ. Sự thay đổi và chênh lệch nhiệt độ rất lớn mỗi ngày khiến đá tảng cũng phải nứt vỡ tan thành bụi cát, huống chi là bụi gai bé nhỏ. Thế nhưng, bụi gai vẫn tồn tại và chứng minh sự hiện hữu của mình theo năm tháng.

Đối diện với sức nóng và cái lạnh khủng khiếp, bụi gai lặng lẽ buông rơi hết lá cành hào nhoáng, không giữ lại những gì không cần thiết cho một đời cây. Bụi gai trở về với chính mình, không còn dáng vẻ hùng vĩ của cây đại thụ, chẳng còn hương thơm toả ngát đêm sương của loài hoa. Tất cả chỉ còn lại một sự mảnh khảnh nhưng bền bỉ của gai và xương gai. Ngay đến cái tên của nó – Cây Gai - cũng biến mất để cuộc đời chỉ gọi nó là bụi gai của lãng quên. Dù hình dạng bên ngoài đã đánh mất niềm hãnh tiến, nhưng bên trong mọi tinh tuý đã cô đọng lại trong trái tim vẫn còn mạch sống.

Bụi gai không bao giờ đặt câu hỏi sao nó phải ở nơi vùng hiu quạnh này, cũng như chẳng buồn lòng khi bạn bè cây cối để nó lại trong đơn chiếc. Bởi vì bụi gai biết được ý nghĩa cuộc sống và giá trị của nó mang lại cho đời. Chính điều này làm bụi gai mĩm cười trước mọi biến cố hà khắc để thực hiện trọn vẹn giá trị có một không hai của mình.

Chẳng ai yêu một bụi gai như yêu một đoá hoa, nhưng giá trị tình yêu bụi gai vẫn là một - làm đẹp cho đời. Người ta đập nát thân gai, tước lấy từng sợi tơ trong trái tim của nó để đan dệt thành những chiếc áo che chở trái tim trần trụi của con người trước sức nóng và cái lạnh cuộc đời. Người ta chặt gai và thiêu huỷ cuộc sống nó để mang lại ánh lửa nồng ấm cho những cõi lòng đêm lạnh trăn trở. Bụi gai dâng hiến tất cả sinh lực và sức sống cho đời để mong con người đừng dùng nó gây thương tổn cho đồng loại, đừng đâm vào tim nhau để vết thương rỉ máu và mang lấy vết sẹo tình yêu.

Thế nhưng điều bụi gai sợ nhất đã xảy ra. Một đêm khuya lạnh giá trong ánh đuốc mờ ảo. Người ta chặt và cuộn bụi gai lại thành từng vòng như một cái thúng và úp chụp lên đầu một Con Người trần trụi với đầy vết thương đang hở miệng. Bụi gai giật mình kinh hoảng. Từng thớ sợi trong tim co rút lại để những gai nhọn của nó không làm đau Con Người đã chịu quá nhiều thống khổ. Không ! người ta không cho nó làm điều đó, một nghĩa cử của trái tim bị ngăn chặn bởi những toan tính mù quáng và đen tối. Những nhát gậy đập liên tục lên thân nó làm bụi gai oằn mình rung lên và tất cả gai nhọn đâm thẳng thật sâu vào Con Người đáng thương. Bụi gai như dính chặt cuộc đời nó vào Con Người im lặng trước mặt. Những dòng máu nóng hổi của Người ấy tuôn chảy khắp thân thể nó và lần đầu tiên trong đời bụi gai cảm nhận một sức sống kỳ lạ lan dần vào từng ngõ ngách cuộc sống. Một tình yêu ấm áp tha thứ và bao dung phủ trọn trái tim bụi gai để mọi ưu phiền, đớn đau và nghịch cảnh trở thành những đoá hoa đầy ánh sáng.

Bụi gai, một loài thảo mộc đơn hèn, bị người đời khinh chê và lãng quên đã được Con Người khổ đau ấy nâng lên thành một vương miện đỏ thắm gắn chặt vào lòng mình, để trái tim của nó cảm thấu được tất cả những nhịp ru khắc khoải nhưng an hoà của Tình Yêu muôn trùng vô biên.


Mùa Chay Thánh
04/03/2010
An Thiện Minh
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 07.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

XIN HÃY THA THỨ CHO NHAU

Sông La


Trơi vẫn cứ mưa, mưa hoài. Mưa làm cho đất như nẫu ra, mưa dai dăng kéo dài. Mưa gợi cho con nhìn vào thực tại trong kiếp nhân sinh.

Mưa đời đã làm xói mòn biết bao mảnh đời nghiệt ngã. Mưa buồn của người xa xứ, sau cái xa xứ là biết bao bát hạnh của kiếp người tìm kiếm cớ sinh nhai. Mưa buồn của tình người đổi trăng thay đen. Mưa sỷ nhục, mưa hiểu lầm, mưa vu khống, dối trá, tham lam, ích kỷ.

Thật sư,trời có tuôn mưa xuống ,đất có nẫu ra thì vẫn có lúc ngừng,và ánh nắng lại bừng lên cho nhân gian ấm lại . Nhưng cái mưa đời trong kiếp con người bao giờ mới được bước vào công lý và hoà bính, vào trong tự do và sự thật . Nếu như mưa đời trong cõi nhân sinh không có chân lý tin mừng lời Chúa, không có tình yêu Agapê sống la cho thì mãi mãi vẫn còn bất công, mưa đời vẫn làm khổ đau,cơ cựccho bao mảnh đời nghèo khổ.

Mưa đời trong kiếp nhân sinh ,nếu ai đó trong chúng ta có trong mình đức ái Kitô giáo, tránh sao khỏi nỗi đau nao lòng, lòng ta day dứt vì những bất công ,tàn nhẫn của con người đối với con người, vì cái ranh giới giữa đời và đạo ,vì cái đối nghịch giữa thánh thiêng và ô trọc.

Thât sự,cái ô trọc,sự dữ,sự ác có bao giờ mà tiếp nhận được tình yêu ; làm sao mà cảm nhận được lòng từ bi nhân hậu xót thương nơi Thiên Chúa là Cha.

Để xoá đi cái mưa đời nghiệt ngã, Đức Giê Su Ki Tô con Thiên Chúa đã xuông thế làm người.
Thiên Chúa thât cũng là con người thật hoà quyện trong nhau,để đi vào thế trần, để mà hiểu,mà thấy cái thấp hèn,yếu đuối,mỏng manh của con người để rồi mà tha thứ, để mà xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm

Con tự hỏi lòng con? Sao Chúa Giê Su đau khổ bước đi trên con đường thập giá là Thiên Chúa thật,con Thiên Chúa lại làm người để đi vào cung lòng người nữ,để sinh ra trong một đêm mưa gió, ở một nơi hèn hạ hang bò lưa. Rồi lớn lên như bao trẻ đói nghèo của người dân lao động. Để bước đi trong mọt đời sống bị sỷ nhục ,bị tẩy chay,bị xét đoán,bị chỉ trích , rồi bị giết chết bởi những người mà chính Thiên Chúa Cha tuyển chọn,đã mặc khải trước tiên trong nhân loại loài người.Vâng, bởi chính Ngài là Thiên Chúa tình yêu, đức ái từ muôn thủa,trong ngài không có hận thù,không có căm ghét ,không có đố kỵ . Nơi Ngài chỉ có tha thứ, chỉ cólà yêu ,yêu cho đến tân cùng , yêu cả cái tội lỗi muôn thủa của con người. Nhờ Người ,trong Người mà tìnhyêu Thiên Chúa ở trong con người Ki Tô Hữu , dù ta có bị mưa đời xói mòn, dù có thế nào đi chăng nữa ta vẫn không đơn độc kiệt ngã. Chúa ở trong ta, Chúa mời gọi ta: “hãy tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Và “Hãy tha đến bảy mươi lần bảy, tha mãi mãi.” Thiên Chúa cũng xót thương họ nhưng họ chẳng muốn nhận ra điều đó. Cái đức ái của người Kitô hữu, của những người được Thiên Chúa ban ơn là như vậy đó. Chúa là Emanuel luôn hiện hữu, hằng hữu, và thánh ý nhiệm màu của Người con người dò sao thấu. Những khuấy động hôm nay trong một xã hội bất công, trong những cái bất toàn Chúa vẫn thấy đó, Chúa vẫn hiện hữu và chính Ngài đang nói với chúng ta rằng chưa đến thời đến buổi, mà hãy chạy đua trong cuộc đua về nước Đức KiTô bằng sự kiên tâm, kiên định, trung tín, bằng tất cả tình yêu mà Ngài ban cho ta. Chúa mời gọi sống tha thứ, sống làm việc trong đức tin, đức cậy, đức mến bằng cái khôn ngoan của con rắn, bằng cái hiền lành của con chim bồ câu.

Hôm nay đây trong cái thực tại nhưng với niềm tin vào Thiên Chúa tình yêu, ta tin rằng Chúa đang liên kết chúng ta lại như chính Ngài đã liên kết, triền nở cộng đồng dân Chúa qua mấy ngàn năm bị bách hại. Từ một dân Do Thái tuyển chọn nay đã lan rộng ra toàn thế giới. Như Việt Nam ta hơn 300 năm đã có biết bao Hồng Y, Linh Mục, Giám mục tăng lên vững mạnh. Dù hoàn cảnh bất lợi, dù khó khăn ngập tràn nhưng khải huyền sẽ đến trong sự hiện diện của niềm tin. Dù có thế nào đi chăng nữa ta cũng sẽ cộ gắng sống như chính Đức Giêsu Kitô đã sống. Dù hôm nay. Các giám mục, các linh mục có có phải đối di65n với bao gian nguy thử thách trong một xã ho65ia2 công lý chưa được suy tôn thì ta vẫn tin đó là thánh ý nhiệm màu để giúp cho các Ngài và giáo dân Việt Nam thêm can đảm, dũng cảm để tuyên xưng đức tin giữa đời. Hôm nay đây Giáo Hội luôn mời gọi đối thoại liên tôn, trong Thánh Ý Chúa, chúng ta mong muốn hiệp nhất nên một để đi đến một nhân loại yêu thương, hoà bình, công lý, bước đi trong sự thật. Nhưng nếu dòng đời cố tình không muốn hoà bình, không muốn xem bốn phương trời là anh em. Phải chăng họ muốn ta đi ngược lại với lịch sử của dân tộc là dựng và giữ. Không muốn sự thật, không thực thi công lý và tình yêu, điều tất yếu là hậu hoạ họ tự chuốc lấy, Chúa sẽ phẫn nộ cùng họ “Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của ta”.

Còn chúng ta, chúng ta có Chúa, ta cố gắng sống trong cuộc đời công chính để xây dựng hoà bình bằng tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu Agape, thanh khiết bằng tất cả tấm lòng khoan dung, từ bi nhân hậu, mềm dẻo nhưng phân dịnh rạch ròi đúng, sai, xấu, tốt. Không tranh chấp, xô xát, đố kỵ, ghen tuông.

Tình yêu của Thiên Chúa mời gọi con dù trăn trở khổ đau nhưng hãy lấy sự tha thứ làm đầu. Con nguyện xin Chúa giúp con cố gắng sống sử xự mọi việc xuất phát từ tình yêu của Chúa, từ sự hiền hậu và đức khôn ngoan thật, để trong Chúa chúng con cũng cầu nugyện cho họ, xin Chúa giúp họ nhận ra rằng họ cũng được Thiên Chúa xót Thương.

Sông La








CON ĐÃ VÂNG LỜI CHÚA CHƯA?

Vũ Thủy


Đọc bài Phúc âm “Chúa hiển dung trên núi Ta-bo” con hiểu như thế này này Chúa ạ:
Chúa đã đóng vai một người con của thợ mộc ở làng Na-za-reth nhỏ bé, dĩ nhiên là Chúa cũng có hình dạng bình thường như chúng con. Trong một lần lên núi cầu nguyện cùng với ba môn đệ, Chúa Cha đã cho ba môn đệ người trần mắt thịt của Chúa nhìn thấy Chúa hiển dung. Dung nhan Chúa tỏa sáng, y phục Chúa cũng tỏa sáng tuyệt vời. Đồng thời với sự biến hình của Chúa là lời khẳng định của Đức Chúa Cha: “Đây là con Ta hằng yêu dấu, Ta rất hài lòng về Người, các ngươi hãy vâng nghe lời Người”. Trong lúc Chúa hiển dung, Chúa đã cùng ông Mô-sê và ông Ê-li-a nói về chuyện Chúa sẽ phải đi Giê-ru-sa-lem để chịu đau khổ và chịu chết. Tiếp theo đó sẽ là một sự hiển dung nữa, sự phục sinh đầy vinh hiển của Chúa.

Con đã nghe lời Chúa chưa? Chúa biết rõ lắm mà! Con đã cố gắng hết sức để vâng nghe lời Chúa. Thế nhưng với bản tính mỏng dòn, đôi khi trong quá trình chịu đau khổ kết hợp với đau khổ của Chúa để được cùng biến đổi với Chúa đã làm con mòn mỏi, hoặc làm con trở nên kiêu căng nữa không biết chừng. Xin Chúa hãy luôn cảnh giác con nhé!

Chúa vừa mới xuất hiện trong vẻ chói ngời như mặt trời, khi trở xuống núi Chúa đã phải suy nghĩ về việc đi Giê-ru-sa-lem để chịu chết. Một chuỗi những sự kiện như: bữa tiệc ly, cầu nguyện với Chúa Cha trong vườn Giệt-si-ma-ni, bị bắt, chịu thẩm vấn, chịu phỉ nhổ, chịu đánh đập, chịu đóng đinh, rồi chết trần truồng trên thập giá. Chúa cũng đã sợ hãi và buồn rầu đến toát mồ hôi máu, Chúa cũng đã từng tần ngần trước chén đắng mà Chúa Cha trao cho. . .

Chúa biết rõ con chỉ là một cô gái yếu đuối, bệnh hoạn mà sao Chúa lại còn cho con tính nhạy cảm nữa? Lạy Chúa, cuộc đời con đã trải qua bao nhiêu chu kỳ của sự biến đổi cùng với Chúa? Thoạt khi con vừa bước vào tuổi 17, con đã gặp một biến cố với biết bao suy nghĩ về tương lai của mình. Con đã chờ đón những gì con biết là rồi sẽ xảy ra cho mình. Lúc ấy con đã cầu xin: Lạy Chúa, con không xin cho khỏi bệnh, nhưng con xin cho con đủ sức chịu đựng! Vậy mà đã có lúc con tự hào cho mình là người mạnh mẽ, đã phấn đấu để đứng vững trước những thử thách của cuộc đời. Con vội phủ nhận những ơn mà Chúa đã ban cho con, đã đáp lại lời con, nói gì đến lòng biết ơn Chúa nữa. Chỉ đến khi con trở thành người mù hoàn toàn, con mới nhận ra mình vốn là một con số không vô nghĩa trong thế giới này, tất cả những gì con có là của Chúa ban cho. Và rồi chuỗi đời con dần dần biến đổi qua những đau khổ của bệnh tật và đớn đau của thể xác.

Con lần đi theo dấu vết của Chúa trên đường lên núi Sọ, và dừng lại dưới chân thập giá. Ở đó, con cùng được biến đổi với Chúa, con thấy chung quanh mình bừng lên đầy ánh sáng. Qua luồng ánh sáng đó, qua ý nghĩa của cây thập giá, con đã nhìn thấy nhiều điều mới mẻ. Những khi vì mù lòa mà phải chịu đựng, nhịn nhục để được sự giúp đỡ của người khác, con nghĩ đến vẻ nhẫn nhục của Chúa trên thập giá. Chúa trần truồng và bất lực như con. Những khi đau đớn mà bệnh không có thuốc chữa, con nghĩ đến sự đau đớn của Chúa khi bị đóng đinh. Chúa còn đau gấp trăm, gấp ngàn lần con ấy Chúa nhỉ? Và con lại dâng sự đau đớn ấy cho Chúa, nhưng còn cố làm cuộc trao đổi khá buồn cười: “Lạy Chúa, con xin dâng sự đau khổ của con cho Chúa để cho những người bệnh đang đau đớn gấp trăm, gấp ngàn lần con được bớt đau đi một chút!”. Khi con nhận được những niềm vui, những sự giúp đỡ nhiệt tình con lại nghĩ đến những người không được may mắn như mình. Con muốn đem những niềm vui, những gì con có để chia sẻ cho người không được may mắn như con. Khi nằm lẻ loi trên giường bệnh, con nghĩ đến Chúa lẻ loi nếm chút giấm trên thập giá, nghĩ đến những người không nhà cửa, không tiền bạc chữa bệnh và cầu xin cho họ. . .

Tất cả những điều ấy con muốn làm vì Chúa. Nhưng con không nói Chúa cũng biết đôi khi con giống như ông Phê-rô sốt sắng muốn dựng lều cho Chúa trên núi Ta-bo. Đôi khi con làm việc thiện vì muốn chứng tỏ cho người khác biết mình là người tốt nữa. Có những lúc con cảm thấy muốn nổi đóa và không muốn đeo thêm lên mình một gánh nặng nào nữa cả. Những lúc ấy, con nhìn thấy ánh mắt lặng câm của Chúa trên thập giá thẳng thắn bảo con rằng: “Ngươi đã không vâng nghe lời Ta!”.

Lạy Chúa, con xin cố gắng vâng nghe lời Chúa! Xin Chúa luôn giúp con biết chấp nhận đau khổ để được biến đổi trong Chúa. Nhưng lạy Chúa, Chúa phải thường xuyên nhắc nhở con mỗi khi con bướng bỉnh không vâng nghe lời Chúa nhé, Chúa nhớ đấy!

Chúa nhật II mùa chay năm 2010
Viết cho nhóm Đồng Hành mùa chay năm 2010

Vũ Thủy

(Còn tiếp)
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 08.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Trái Tim Chúa Giêsu là “Lò Lửa Yêu Mến Hằng Cháy”

A.P Mặc Trầm Cung
*****




Trái Tim Chúa Giêsu là “Lò lửa yêu mến hằng cháy”, Nơi Thánh Tâm Chúa, con người có thể tìm được cả một kho tàng tình yêu tuyệt hảo, Trái Tim Ngài là lò lửa bừng cháy tình yêu. Lò lửa phát ra ánh sáng huy hoàng xua tan tăm tối âm u và sưởi ấm tâm hồn của những lữ khách đang sống trong băng giá lạnh lùng. Khi còn trên thập giá: “Một người lính cầm giáo, đâm vào cạnh sườn Chúa Giêsu, tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19, 34)… Điều này chứng thực tình yêu bao la của Chúa Giêsu, máu và nước từ cạnh sườn của Ngài chảy ra làm phát sinh các Bí Tích. Như Chúa Giêsu cũng đã nói: “Ai khát, hãy đến với tôi. Ai tin vào tôi, hãy đến mà uống. Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7, 37 – 38) Vì yêu thương nhân loại, Chúa Giêsu chịu chết trên cây thập giá để cứu rỗi nhân loại. Tình yêu của Người là tình yêu tự nguyện hiến dâng, một tình yêu phục vụ: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13)

Ngài hoàn toàn tự nguyện, hy sinh chịu chết để mang lại hạnh phúc cho con người, đặc biệt là những con chiên lầm đường lạc lối Thiên Chúa luôn dành cho những con chiên đó một mối quan tâm đặc biệt như Chúa phán qua tiên tri Ezekien rằng: "Ta không muốn kẻ có tội phải chết nhưng muốn nó ăn năn sám hối mà được sống" (Ed 33,11). Như khi Chúa Giêsu đang dùng bữa tại nhà một người thu thuế, có người thắc mắc với các môn đệ: “Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?” (Mt 9, 11). Ngài đã thẳng thắn trả lời với họ rằng: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9, 13).

Chính tình yêu luôn bừng cháy trong trái tim, mà Ngài đã bỏ 99 con chiên mạnh khỏe ở lại mà đi tìm con chiên lạc (Lc 15, 4), tìm kiếm không mệt mỏi và kiên nhẫn đợi chờ.

Vâng đúng vậy! Ngài đã tìm kiếm và kiên nhẫn đợi chờ anh, một con chiên hoang đàng đã bỏ Ngài ra đi lang bạt kỳ hồ suốt 35 năm, cuối cùng tình yêu của Ngài đã thắng, Ngài đã chinh phục được anh, đưa anh trở về bên dòng suối mát để anh được gột rửa những bụi bặm của cuộc đời, bên đồng cỏ xanh rì để anh được bồi dưỡng no nê trước khi đưa anh vào cõi sống đời đời.

Anh là Nguyễn Văn C…(*), trước 1975, anh là một chàng trai tuấn tú, Một Thiên Thần Mũ Đỏ - Binh Chủng Nhảy Dù thuộc tiểu đội 2 Trinh Sát, đóng quân tại trại Hoàng Hoa Thám – Bảy Hiền. Một thời bay nhảy, một thời ăn chơi, với bản tính gan lì, anh cũng đã từng làm mưa làm gió, tranh giành lãnh địa để bảo kê cho một số quán cà phê, ma túy cũng đã đến với anh rất sớm từ khi anh con là học sinh cấp III, để thỏa mãn những cơn nghiền anh bất chấp tất cả, vì thế cuộc đời càng nhiều giông tố thì càng tạo cho anh bản tính chai lì hơn. Một lần trong cuộc chiến đấu ở Quảng Trị anh đã bị thương, một viên đạn vô tình đã bay trúng mặt anh làm cho khuôn mặt điển trai của anh ngày nào trở nên méo mó, sau những ngày tháng nằm tại Bệnh Viện Cộng Hòa (nay là BV 175) đã để lại nơi khuôn mặt anh một vết sẹo lớn, dài làm kỷ niệm.

Chính vết thẹo này đã làm cho anh thêm lì lợm và tăng thêm vị thế, đẳng cấp trong chốn giang hồ và bảo kê, nhìn khuôn mặt của anh với vết sẹo lớn, dài chạy ngang mặt, nhiều người cảm thấy ớn lạnh, tránh né không dám đụng tới.

Vết sẹo thời gian vết sẹo đời
Giang hồ bay nhảy chốn ăn chơi
Đày đọa đắm chìm trong u tối
Thuyền đời mất hướng giữa biển khơi.


Sau 1975, anh như con chim bị gãy cánh, như con chồn hoang bị ướt lông trong tiết trời băng giá, anh không còn vùng vẫy, ra oai được với ai, giờ đây anh phải đối diện với chén cơm, manh áo của vợ con anh và nhất là phải làm thỏa mãn cơn thèm thuốc mà anh đã ngập sâu, bây giờ anh đã nghiện nặng, anh đã chống chọi, lây lất qua ngày, làm đủ mọi công việc để kiếm ra tiền từ đạp xe ba gác, nhặt bọc ny lông, mua bán ve chai, lạc xoong …v…v… và cái nghèo, cái đói, cái khổ cứ vây quanh anh, dù được sự trợ giúp của gia đình cha mẹ, anh chị em ruột thịt nhưng ma túy đã ràng buộc đời anh, anh không thể nào vươn mình lên được, để có tiền hút chích anh cũng đã kiêm luôn việc bán lẻ ma túy để có điều kiện thỏa mãn cơn nghiền.

Cuộc đời anh ngập chìm trong vòng vây của ma túy, ....(cắt bỏ)

Cuộc đời anh như con thuyền mất phương hướng giữa biển khơi, ngoi lên ngụp xuống giữa giông bão cuộc đời, gia đình cha mẹ, anh chị em, vợ con anh cũng cảm thấy bất lực và mệt mỏi với anh, mọi người đã dùng hết cách của mình để khuyên bảo và giúp đỡ anh làm lại cuộc đời, hơn 30 năm, một thời gian quá dài để kiên nhẫn chờ đợi anh thay đổi, gia đình chỉ còn biết cầu nguyện phó thác đời anh trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Con người bất lực nhưng Thiên Chúa không bất lực, Ngài là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn tâm can con người. Thiên Chúa không muốn tội nhân bị diệt vong. Chỉ một người tội lỗi sám hối ăn năn là cả triều thần thiên quốc vui mừng khôn xiết hơn chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn (Lc 15,7). Ngài là Đấng chậm bất bình và rất mực khoan dung, Ngài kiên nhẫn đợi chờ vì Ngài là Cha từ nhân, lượng từ bi vô biên của Ngài nào ai đo lường được. Với con người nhiều khi buông xuôi vì bất lực, vì quá khó, khó như chuyện con lạc đà chui qua lỗ kim, nhưng với quyền năng và tình yêu bao dung của Thiên Chúa thì mọi sự đều trở thành có thể (Mt 19, 23 -26).

Khoảng một năm trước ngày anh được Thiên Chúa gọi về, cứ mỗi buổi sáng người ta thấy anh tay cầm chiếc kìm cắt tỉa và một con dao nhỏ lặng lẽ đến nhà thờ, âm thầm cắt tỉa những ngọn cỏ, những cây kiểng chung quanh nhà thờ, anh làm việc trong âm thầm lặng lẽ mặc cho ai nói ra nói vào, từng ngọn cỏ anh cắt, từng nhánh cây anh tỉa, anh lại dâng lên Thiên Chúa như một lễ vật mọn hèn mong được đền bù những tội lỗi của mình trong suốt hơn 30 năm qua, sự trở về của anh là một hồng ân của Thiên Chúa qua trung gian của vị linh mục chánh xứ, vị linh mục ấy chính là Vị Mục Tử nhân lành (*) đã yêu thương chăm sóc đàn chiên của mình, con nào ốm đau cha lo chăm sóc, băng bó và bồi dưỡng, anh đã lắng nghe lời khuyên nhủ ân cần của cha và thay đổi lối sống, cha xứ còn gọi anh vào ở luôn trong nhà xứ và giao cho anh vài công việc như phụ trách phần âm thanh và dọn cung thánh trước và sau thánh lễ, nhưng anh đã khéo léo từ chối, anh biết cha xứ thương anh, nhưng vì mặc cảm tội lỗi của mình trong mấy chục năm qua, anh không dám đến gần cung thánh chỉ dám đứng từ xa ở góc cuối nhà thờ hay ngoài khuôn viên âm thầm làm những công việc lặt vặt, những lúc có thánh lễ an táng phải ra nghĩa trang, cha xứ đưa anh cầm sách thánh anh cũng không dám cầm và vội chuyền nhanh cho các em giúp lễ, vì anh cảm thấy mình bất xứng đụng chạm đến những gì thuộc về thánh. Đó là những điều mà tôi đã được chính anh tâm sự.

Anh đúng là hình ảnh của người thu thuế tội lỗi vào đền thờ cầu nguyện chỉ dám quỳ từ xa đấm ngực ăn năn “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, anh cũng như người thu thuế kia chỉ biết tha thiết van xin lòng thương xót của Chúa chứ không dám kể lể công trạng gì.

Anh rất vui vẻ làm lại cuộc đời, nhìn thấy anh lên rước lễ gia đình chúng tôi chỉ biết gục đầu cảm tạ hồng ân Thiên Chúa và cám ơn vị linh mục chánh xứ, rồi vào một ngày cuối năm, để cho bà con hưởng một cái tết vui tươi và hạnh phúc, .....(cắt bỏ)

Lần này, trong thời gian ở trại cải tạo, bệnh của anh bộc phát ở giai đoạn cuối, anh đã bị nhiễm HIV từ lâu mà anh vẫn giấu gia đình. Từ trại cải tạo người ta chuyển anh về một bệnh viện gần nhà, khi chúng tôi lên thăm anh, được bác sĩ cho biết tình trạng của anh vô phương cứu chữa, anh chỉ còn sống được khoảng 2 tuần lễ nữa là cùng. Gia đình chúng tôi vào cha xứ trình bày về tình trạng của anh, cha xứ nói rằng cha đã biết trước cả gia đình vì chính bác sĩ đã gọi điện báo cho cha biết có một con chiên của cha mới được chuyển về đây, gia đình chúng tôi chỉ biết cúi đầu cảm phục về tinh thần trách nhiệm và tấm lòng phục vụ của cha.

Hôm sau anh đã được đưa về nhà để chữa trị, mục đích là để anh được đón nhận các bí tích sau hết và dọn mình chết lành, cha xứ đã ra tận nhà ban phép Giải Tội và Xức Dầu cho anh, anh đón nhận tất cả trong tâm tình vui vẻ, anh cũng biết đời mình sắp kết thúc, anh cũng sẵn sàng chấp nhận không nuối tiếc, nhưng khi nhìn thấy vợ con lòng anh dâng lên một niềm ân hận, anh có 6 người con một gánh quá nặng mà từ trước tới giờ anh đã chất nó trên vai người chị cả, người chị đã hy sinh cả đời mình để nuôi nấng các con anh, người vợ hiền chung thủy của anh luôn ở bên anh trong mọi tình huống đắng cay, tủi nhục của cuộc đời nhưng lại không có khả năng làm kinh tế, vì thế 6 người con của anh đã được cha mẹ anh và người chị cả nuôi dưỡng.

Khoảng một năm trước đây, mừng anh trở lại với Chúa, người chị cả và người em gái của anh đã hy sinh cả số tiền dành dụm của mình trong nhiều năm để cất lại cho anh và vợ con anh một căn nhà khang trang sạch sẽ, giờ đây trước giờ phút ngắn ngủi từ giã cuộc đời, anh muốn nói lên một lời xin lỗi và cám ơn nhưng anh cũng không nói được, cố gắng lắm anh nói với người chị cả được một câu:

“Chị ơi! Em thua rồi, em không làm được gì nữa cả”,

Người chị trả lời: “Không!Em không thua mà em đã chiến thắng, em quay về với Thiên Chúa là em đã chiến thắng”.

Vâng! Anh đã chiến thắng, nói cho đúng hơn là chính Tình Yêu Thiên Chúa đã chiến thắng đã đưa anh về ấp ủ trong trái tim nồng cháy của Ngài.

Trái tim Chúa bến bờ hạnh phúc,
Luôn bao dung thao thức đợi mong.
Chiên hoang lạc lối ngược dòng,
Trái tim nhân hậu ngóng trông ngày về.




Mấy hôm sau, giây phút định mệnh của đời anh cũng đã đến, giây phút mà anh và mọi người vẫn âm thầm chờ đợi, giây phút Chúa đến gõ cửa linh hồn anh, ...(cắt bỏ) ...Đêm hôm đó anh cảm thấy trong người rất đau đớn, anh cố gắng chịu đựng, từng bụm máu tươi và mủ hòa chung đã tuôn ra từng đợt nơi miệng anh, những mụn lở loét trên người anh cũng đồng loạt vỡ tung, anh rất đau đớn nhưng cam chịu chỉ khẽ rên, vợ con anh thì xoa bóp tay chân cho anh đỡ đau nhức, chúng tôi ở bên cạnh anh cầu nguyện và đọc kinh dẫn đàng, ánh mắt anh liếc nhìn từng người chúng tôi như trăn trối muốn nói lời tạm biệt, hai bàn tay anh nắm chặt thánh giá có tượng Chúa chịu nạn và thầm đọc theo chúng tôi. Trong giây phút vượt biển này chỉ có Tình Yêu Thiên Chúa là chiếc phao duy nhất để anh bám víu và đưa con thuyền đời anh đi đúng hướng mà thôi.

Đến khoảng 8 giờ sáng hôm sau, anh đã thanh thản ra đi trong bình an. Hôm đó là ngày 08/08/2006.

Trong thánh lễ an táng của anh, cha xứ đã chia sẻ với cộng đoàn về anh, về những công việc thầm lặng mà anh đã làm trong tâm tình thống hối ăn năn, cha tin tưởng anh được cứu rỗi nhờ vào Lòng Thương Xót vô biên của Chúa và cha nói với chính anh rằng: “Tôi hy vọng rằng, một ngày nào đó Chúa gọi tôi về, anh sẽ ra đón tôi ở cửa Thiên Đàng”. Sau thánh lễ cha đã thay mặt gia đình cám ơn mọi người đã yêu thương và giúp đỡ anh và gia đình trong những ngày cuối đời của anh và nhất là những ngày anh đã nằm xuống, và với nguyên bộ phẩm phục trên người, cha tiễn anh đến cuối nhà thờ để đưa đi hỏa táng, khi chuyển quan tài anh lên xe, tấm lòng người mục tử dâng lên một niềm cảm xúc bồi hồi, những giọt nước mắt yêu thương đang long lanh nơi khóe mắt…

Trái Tim Chúa Giêsu là “Lò lửa yêu mến hằng cháy”, Tình yêu bừng cháy nơi Trái Tim Ngài chính là Thần Khí Thiên Chúa, cháy bằng ngọn lửa hằng sống là tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi không bao giờ tắt. Nơi Trái Tim Chúa một tình yêu luôn kiên nhẫn đợi chờ, Ngài chờ đợi cho đến mùa gặt, qua dụ ngôn “Cây lúa và cỏ lùng” (Mt 13,24-29). Chúng ta nhận thấy tình yêu bao la đầy khoan dung của Thiên Chúa, vì Ngài là Cha nhân lành, chậm bất bình và đầy lòng khoan dung như Ngài đã dạy thần dân rằng: “Người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Ngài ban ơn sám hối” (Kn 12, 19). Không một thánh nhân nào mà không có một quá khứ lỗi lầm. Vì thế, chẳng có một tội nhân nào lại chẳng có thể có một tương lai tốt đẹp.

Trái tim Chúa ân tình no thỏa,
Cho mặt trời chiếu tỏa ánh quang.
Mưa rơi tưới mát đại ngàn,
Cả người công chính, kẻ gian hưởng nhờ.


Thánh Tâm Chúa Giêsu đã giải thoát con người khỏi quyền lực của tội lỗi và là nơi ẩn náu, cậy trông của những tâm hồn thất vọng, Tình yêu Chúa sẽ cải hóa tâm hồn của họ. Nhờ đức tin, con người mới có thể nhận ra được tình thương của Thánh Tâm Chúa được mở ra, lôi kéo con người tới để lãnh nhận ơn tha thứ và tình thương của Ngài.

Trong Trái Tim Chúa yêu muôn đời…Con xin được một chỗ nghỉ ngơi…
Nhỏ bé thôi, nhỏ bé thôi…như nước mưa tan trong biển khơi…
Nhỏ bé thôi, nhỏ bé thôi… Trái tim con trong Trái tim Người…
Nhỏ bé thôi, nhỏ bé thôi…Là tình con trong khối tình Người…

Trong Trái Tim Chúa – Phanxicô

Mùa Chay về, Giáo hội cũng muốn nhắc cho mỗi người Ki tô hữu nhớ đến Lòng Nhân Hậu của Thiên Chúa và những gì mà chúng ta cần phải nổ lực quyết tâm vươn tới bằng sự đáp trả tình yêu của Ngài. Lòng khoan dung của Chúa chính là nguồn êm ái dịu dàng cho mọi tâm hồn biết chạy đến nương nhờ nơi Trái Tim yêu thương của Ngài. Chúng ta nài xin Tình Yêu Thiên Chúa ban ánh sáng cho bóng tối trần gian của chúng ta và sưởi ấm cho tâm hồn giá lạnh của nhân loại. Chúng ta khiêm tốn nguyện xin Thiên Chúa ban thêm đức tin và lòng mến trong tâm hồn để mỗi chúng ta can đảm quay về với Ngài, cho dù đời ta có méo mó, xấu xí, có dị dạng như thế nào đi chăng nữa, thì ta vẫn tin rằng, ta vẫn đáng yêu trước mặt Thiên Chúa và được Ngài ôm ấp vào lòng tận hưởng sự ngọt ngào nơi trái tim Ngài.

Hãy quay về bạn nhé! Chúa đang chờ đợi ta.

A.P Mặc Trầm Cung

* Anh Nguyễn Văn C …(*) là anh ruột của Mặc Trầm Cung.
* Vị Mục Tử nhân lành (*) chính là Lm Vinh Sơn Bùi Quang Điện, trước đây làm chánh xứ Nam Hưng – Hóc Môn.



THIÊN CHÚA VÀ CHỦ THUYẾT VÔ THẦN MỚI


Vài hàng giới thiệu tác phẩm và tác giả của người dịch:




Tại Hoa kì, hiện nay có một nhóm tự xưng là vô thần, phổ biến nhiều sách bán chạy nhất và bài báo, cả trên mạng, phi bác sự hiện diện của Thiên Chúa và tôn giáo, cách riêng Kitô giáo. Trong nhóm này phải kể đến Richard Dawkins, một giáo sư đại học, Sam Harris, Christopher Hitchens, Daniel Dennett, vv.

John F. Haught là Trưởng khoa và Giáo sư tại Phân khoa thần học Đại học Georgetown từ năm 1970 đến 2005. Ông là Thành viên thâm niên về Khoa học và Tôn giáo tại Trung tâm thần học Woodstock thuộc Đại học Georgetown. Về vị giáo sư tác giả của “Thiên Chúa và chủ thuyết vô thần mới” (God and the New Atheism) này, tôi xin mượn lời của Elia Delio trong bài nhận định của bà về tác phẩm mới nhất của John F. Haught “Làm cho tiến hóa có ý nghĩa” (Making Sense of Evolution): John Haught không chỉ là một trong các nhà thần học hay nhất của thời đại chúng ta; ông, như Teilhard, là một tiên tri.”

Trong bản dịch này, chúng tôi cố gắng sử dụng từ thuần Việt, tránh dùng từ Hán Việt khi có thể được. Về tên riêng người và địa điểm, chúng tôi giữ lại gốc tiếng Anh trừ phi tên đã quá quen thuộc, ví dụ chúng tôi viết Frank, nhưng Phêrô, nước Sweden, nhưng nước Pháp. Theo ý kiến riêng, điều này sẽ dễ dàng cho bạn đọc trẻ đã quá quen thuộc với các ngoại ngữ Anh Pháp ngày nay, hơn là viết theo các phiên âm nhiều khi gây bối rối.

Trần Hữu Thuần

Dẫn nhập

Bất cứ ai theo dõi ngày nay sách bán chạy trong thế giới xuất bản không thể không chú ý đến sự bùng phát gần đây các luận giải vô thần đầy khiêu khích. Các sách bán chạy nhất của Richard Dawkins, Sam Harris, và Christopher Hitchens đã lôi cuốn một số lượng chú ý khác thường. Nhiều người đọc, kể cả các nhà khoa bảng, đã tìm thấy các sách đó không chỉ hấp dẫn mà còn, trong vài trường hợp, thuyết phục. Cuốn Ảo giác về Thiên Chúa (The God Delusion) của Dawkins viết hay tuyệt vời, cho dẫu không luôn luôn chính xác, những gì một số nhà khoa học và triết học đã từng suy nghĩ đến. Tương tự, trong cuốn Chấm dứt đức tin (The End of Faith) và Thư cho một quốc gia Kitô giáo (Letter to a Christian Nation), và Hitchens, trong cuốn Thiên Chúa không vĩ đại: Làm sao tôn giáo đầu độc mọi thứ (God Is Not Great: How Religion Poisons Everything), đã nêu lên rõ ràng và thích thú những gì mà nhiều người đọc của họ cũng cho tôn giáo là sai lầm. Tôi sẽ nói đến các tác phẩm đó cách chung là “chủ thuyết vô thần mới.”

Một số sách có vẻ trí thức tương tự giờ đây đang cố gắng nhân danh khoa học vạch trần tôn giáo và cách riêng ý niệm về Thiên Chúa.[ii] Thoạt tiên tôi có ý muốn kể cả cuốn Phá vỡ lời nguyền: Tôn giáo như là một hiện tượng tự nhiên (Breaking the Spell: Religion as a Natural Phenomenon) của Daniel Dennett một cách tập chú hơn vào trong nghiên cứu của tôi về chủ thuyết vô thần mới, nhưng sách của Dennett là một lý luận dài dòng vô ích về một vấn đề tương đối đơn giản, và dù cách nào cũng không là một phương cách ngoại lệ để tấn công tôn giáo.[iii] Hơn nữa, khi trả lời ba cuốn sách mà tôi đã chọn để đánh giá, tôi quả thực cũng đề cập đến tuyên bố chính yếu của Dennett, nói rõ ra là rằng tôn giáo nên được nghiên cứu theo tự nhiên, cách riêng theo cách nhìn của sinh vật học tiến hóa. Dù sao tên của Dennett cũng thường được nhắc tới, nhưng vì các hạn chế của độ dày và phức tạp của cuốn sách này, tôi đã quyết định đề cập minh nhiên với ba tác giả kia, và với Dennett thỉnh thoảng hơn.

Quan điểm chính của Dennett là rằng khoa sinh vật tiến hóa cung cấp cách giải thích sâu sắc nhất về mọi hiện tượng, kể cả đạo đức và tôn giáo.Xem xét một nhận thức tiến hóa về tôn giáo, tôi có thể lý luận, không là điều thần học chống đối. Thực tế, thần học, như tôi nhận thức nó, không có đối kháng nào trong việc thúc đẩy các cách giải thích tiến hóa về mọi hệ thống sinh vật, kể cả tôn giáo, bao lâu nó có thể hữu lý và hiệu quả khoa học để làm như vậy. Với khoa học, nói cho cùng, các tôn giáo cũng là thành phần của thiên nhiên như tất cả mọi thực tế khác có thể quan sát được. Tuy nhiên, Dennett không ngừng lại với nhận thức rằng tôn giáo là một hiện tượng tự nhiên mà khoa học có đủ mọi quyền để nghiên cứu. Theo ông, cũng như theo Dawkins, một tri thức tự nhiên về tôn giáo không còn dành chỗ đáng kể nào nữa cho các tường trình thần học đáng tin cậy về tại sao phần lớn con người có tôn giáo. Thần học theo Dennett, cũng như theo Dawkins, Harris, và Hitchens, giờ đây hoàn toàn thừa thãi. Chỉ một mình khoa học có thể cho chúng ta biết mọi điều về tôn giáo thực sự là gì, và nó có thể cung cấp các giải đáp tốt hơn thần học có thể cung cấp cho mọi câu hỏi quan trọng người ta hỏi đến. Theo Dawkins, khoa học thậm chí có đủ tư cách để quyết định liệu Thiên Chúa có hiện hữu hay không. Cho dẫu Dennett không hoàn toàn tự tin như vậy, ông chia sẻ sự tin tưởng rằng tầm bao quát nhận thức của khoa học là toàn vẹn, và từ đó rằng nó không để lại chỗ đáng kể cho giải thích thần học về tôn giáo.

Sự tin tưởng của Dennett rằng khoa học có thể cung cấp một tri thức đầy đủ về tôn giáo hiển nhiên không phải là một tuyên bố đã được khoa học chứng tỏ hay thậm chí có thể chứng tỏ được. Đó là một tín điều, một tuyên ngôn về đức tin. Không một tích lũy lớn lao nào về lời lẽ phỉ báng châm chọc hay rèn luyện trí tuệ có thể che đậy sự kiện này khỏi người đọc có tính phê phán. Hệ thống niềm tin mà Dennett các các người vô thần mới khác tán đồng được biết đến như là “chủ thuyết thiên nhiên khoa học” (scientific naturalism). Giáo điều trọng tâm của nó là rằng chỉ có thiên nhiên, kể cả nhân loại và các tạo dựng của chúng ta, là thực; rằng Thiên Chúa không hiện hữu; và rằng chỉ có khoa học có thể cho chúng ta tri thức hoàn toàn và đáng tin cậy về thực tế. Vì Thiên Chúa không nằm trong phạm vi lãnh vực của “chứng cứ” (evidence) mà khoa học cứu xét đến, bất cứ ai có lý trí, có giáo dục về khoa học phải do đó từ khước niềm tin vào Thiên Chúa. Vì phần lớn mọi điều Dennett viết về tôn giáo đều dựa trên niềm tin riêng của ông vào chủ thuyết thiên nhiên khoa học, tôi sẽ trả lời phê phán các bài viết của ông thậm chí nếu tôi không luôn luôn nêu đích danh ông.

Theo Dawkins và Dennett, người ta phải quyết định giữa các giải thích thần học và Darwin. Mỗi người đọc phải chọn lựa hoặc cái này hoặc cái kia. Không thể nào cả hai được. Khi phổ biến giáo điều này, Dennett và Dawkins đơn giản chỉ nêu lại một trong các giả định của phần lớn mọi chủ thuyết vô thần gợi hứng từ khoa học. Carl Sagan, Michael Shermer, Steven Weinberg, Owen Flanagan, và Victor Stenger, ấy là chỉ kể ra một ít, đã tuyên bố tương tự,[iv] vì thế ở đây không cần phải khảo sát riêng lẻ các tác giả này. Các tác giả mà tôi cứu xét đề cập đến cũng lãnh vực đó và hơn thế nữa. Vô số cuốn sách, bài báo, và điểm sách hiện nay tán đồng giáo điều trọng tâm của chủ thuyết vô thần mới, nhưng tôi thấy rất ít điều trong các tác phẩm khác đó đã không được đề cập đến, nếu không muốn nói hay hơn, bởi ba tác giả mà tôi nêu bật trong bộ sách này.

Tuy nhiên, tôi phải thú nhận niềm thất vọng của tôi khi chứng kiến sự trỗi sinh gần đây mối quan tâm đến chủ thuyết vô thần. Đó chẳng phải mảy may vì cuộc đời tôi như là một nhà thần học gặp nguy hiểm—cho dẫu các tác giả được bàn đến thiết tha ao ước như vậy. Cũng chẳng phải vì xử lý về tôn giáo trong các tiểu luận này bao gồm phần lớn các khái quát quá mức hời hợt bỏ ra ngoài hầu hết mọi điều mà các nhà thần học có thể muốn nêu rõ lên trong cuộc thảo luận đương thời của chính họ về Thiên Chúa. Đúng ra, chủ thuyết vô thần mới không một chút thử thách nào về thần học. Việc dấn thân vào thần học của chủ thuyết này nằm gần như ở cùng một tầm mức với suy tư về đức tin mà người ta có thể tìm thấy trong văn chương của các người theo thuyết tạo dựng (creationist) và căn bản (fundamentalist) đương thời. Điều này không gì đáng ngạc nhiên vì chính từ những người theo thuyết tạo dựng và người hữu thần theo thiết kế thông minh mà các người vô thần mới thu nhặt phần lớn nhận thức của họ về đức tin tôn giáo. Các nhà thần học dòng chính, cũng như các sinh viên lịch sử trí tuệ, sẽ tìm thấy trong các sách báo đó quá ít những gì họ chưa từng được thấy trước đây. Hơn nữa, tôi có thể giả thiết nhiều người đọc cuốn sách này không có bối cảnh thần học để biết rõ cách làm sao đồi xử với họ, và vì thế không phải chỉ dành cho các chuyên viên, thầy cô giáo, và sinh viên học sinh, mà còn cho người đọc đại chúng mà tôi cống hiến trong các trang sách này một trả lời theo thần học.

Sử dụng từ “theo thần học” ở đây, tôi muốn chứng tỏ, trước hết, rằng suy tư của tôi phát sinh từ việc tôi tùy thuộc vào một truyền thống tôn giáo hữu thần, nghĩa là, một truyền thống tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa có tính con người (personal God[v]), một Thiên Chúa của quyền uy và tình yêu vô tận, đấng tạo dựng và duy trì thế giới, và đấng mãi mãi mở ra cho thế giới một tương lai mới và không có tiền lệ, một Thiên Chúa làm mới mọi sự. Nhận thức kinh thánh thiết yếu này về Thiên Chúa nói rằng huyền nhiệm siêu nhiên chỉ có thể xử lý bằng phương cách đức tin, tin tưởng, và hy vọng (các quan niệm gần như không thể phân biệt được trong văn chương kinh thánh), không phải như là một sở hữu nhận thức hay tôn giáo. Hơn nữa, cho dẫu Thiên Chúa không thể được biết đến tách rời khỏi đức tin và hy vọng, đa số các nền thần học cho phép rằng đức tin và hy vọng hoàn toàn nhất quán với và tràn đầy nâng đỡ bởi lý trí con người, kể cả việc theo đuổi nhận thức khoa học.

Thứ hai, thần học, như tôi dùng từ đó, là một suy tư tán thưởng nhưng cũng phê phán, triết học về các tôn giáo tuyên xưng niềm tin vàoThiên Chúa. Từ đây trở đi, khi tôi nói đến “thần học,” tôi sử dụng từ này như là nhãn hiệu chung cho công việc của nhiều người tư duy về thông tin kinh thánh, suy tư phê phán, và tôn giáo mà tôi đã tìm thấy hữu ích trong việc hình thành nhận thức của riêng tôi về đức tin và chủ thuyết vô thần. Cách riêng, tôi muốn nói đến các nhà tư duy như Paul Tillich, Alfred North Whitehead, Paul Ricoeur, Rudolf Bultmann, Edward Schillebeeckx, Bernard Lonergan, Karl Barth, John Bowker, Elizabeth Johnson, Karl Rahner, Jürgen Moltmann, Wolfhart Pannenberg, Ian Barbour, David Tracy, Dorothee Soelle, Sallie McFague, Henri de Lubac, Hans Konas, Emil Fackenheim, và Seyyed Hossein Nasr, chỉ kể ra một ít.

Rõ ràng các người vô thần mới không quen thuộc với bất cứ ai trong các nhà tư duy tôn giáo, và sự thù địch với cái mà họ gọi là “thần học” gần như không dính líu gì đến nền thần học như tôi sử dụng từ đó. Thỉnh thoảng, phê phán của chúng tôi đến gần việc nghi ngờ rằng có thể có cả một thế giới khác về tư duy tôn giáo thích đáng ở ngoài đó, nhưng họ muốn làm cho mọi sự dễ dàng cho họ và các người đọc họ, vì thế họ để thần học, ít nữa theo ý nghĩa của tôi với từ này, ra ngoài toàn bộ thảo luận của họ. Chiến thuật này là để chận đứng trên thực tế bất cứ tiếng nói thần học có ý nghĩa nào có thể mong muốn tham gia vào trò chuyện với họ. Kết quả của việc loại bỏ này, phẩm chất trí tuệ của chủ thuyết vô thần của họ bị giảm giá trị một cách không cần thiết. Nhận thức của họ về đức tin tôn giáo vẫn nhất quán ở cùng một tầm mức không uyên bác như tính tôn giáo không suy tư, mê tín, và theo nghĩa đen của những người mà họ chỉ trích. Hơn nữa, ở giữa tất cả nổi bất bình biện minh được của họ với các lạm dụng tôn giáo, họ không thể đo lường tính khả dĩ rằng tôn giáo nhân gian cũng thường lên đến độ cao của cao quí, can đảm, và đích thực mà không một học thuật công bình và vô tư nào có thể làm ngơ.

Một cách lý tưởng, tác giả các sách tôi sẽ đánh giá cũng sẽ liếc nhìn vào các trang sau đây, nhưng vì các bài viết của họ cho đến nay cho thấy không quan tâm gì đến thần học, chắc chắn không còn trông mong rằng họ cũng sẽ hoà điệu vào. Tôi cũng sẽ rất vui nếu các người hữu thần Do thái và Hồi giáo tìm thấy được điều gì đáng quan tâm trong nghiên cứu này, cho dẫu họ chắc chắn sẽ có câu trả lời độc đáo của riêng họ cho chủ thuyết vô thần mới.

TẠI SAO CÓ SÁCH NÀY?
(Why This Book?)

Tôi quyết định viết cuốn sách này nhằm để phơi bày các sai lầm và ngụy biện cơ bản làm cho chủ thuyết vô thần mới ít có ấn tượng hơn là nó thoạt xem ra như vậy. Tôi không thể xử lý từng tác giả với chi tiết, cũng không thể trả lời mọi quan điểm, nhưng không cần thiết phải làm như vậy nhằm để phơi bày tính không nhất quán họ cùng chia sẻ. Các người vô thần mới có biết bao nhiêu điều chung với nhau cũng như với các thể loại chủ thuyết vô thần trước kia cho đến nổi những gì tôi sẽ phải nói để phê phán một người này, ngoại trừ một vài khác biệt thứ yếu, thường thường cũng áp dụng cả cho các người khác. Kết luận này cách riêng đúng về quan điểm chung họ chia sẻ với nhiều nhà khoa học, triết học,và các nhà trí thức đương thời. Ở đây tôi dẫn chiếu đến viễn ảnh ảnh hưởng gia tăng của thực tế mà trước đây tôi đã gọi là chủ thuyết thiên nhiên khoa học. Vì sự quan trọng của nó trong việc hình thành định kiến của tất cả các người vô thần mới, kể cả nhiều người tôi không thể đề cập đến, tôi sẽ liệt kê ra đây các giáo điều chính của nó:

1. Ngoại trừ thiên nhiên, bao gồm cả hiện thân con người và các tạo dựng văn hóa của chúng ta, không có gì nữa cả. Không có Thiên Chúa, không linh hồn, và không có đời sống sau sự chết.
2. Thiên nhiên tự khởi sinh (self-originating), không phải Thiên Chúa tạo dựng
3. Vũ trụ không có quan điểm chung hay mục đích, cho dẫu các cuộc sống con người cá nhân có thể được sống với chủ đích.
4. Vì Thiên Chúa không hiện hữu, tất cả mọi giải thích và mọi nguyên ủy đều thuần túy tự nhiên và có thể được nhận thức chỉ bằng khoa học.
5. Tất cả mọi hình thái đa dạng của hiện thân sống động, kể cả trí thông minh và cách cư xử của con người, đều có thể cuối cùng được giải thích thuần túy bằng diễn giải tự nhiên, và ngày nay điều này thường có nghĩa là bằng diễn giải tiến hóa, cách riêng theo thuyết Darwin.

Các người vô thần mới có thể thêm các điều sau đây vào các giáo điều của chủ thuyết thiên nhiên khoa học:

6. Đức tin vào Thiên Chúa là nguyên ủy của vô số điều ác (evils) và phải bị từ khước trên nền tảng luân lý.
7. Luân lý không đòi buộc niềm tin vàoThiên Chúa, và người ta cư xử tốt không có đức tin hơn là có nó.

Các giả định cùng chia sẻ đó, căn bản trí tuệ của chủ thuyết vô thần mới, đòi buộc một trả lời nếu chúng ta phải đào sâu tận gốc rễ. Trong cuốn sách trước đây, Thiên nhiên đã đủ chưa? Ý nghĩa và sự thực trong thời đại khoa học (Is Nature Enough? Meaning and Truth in the Age of Science), tôi đã lý luận sâu rộng hơn rằng chủ thuyết thiên nhiên khoa học là một hệ thống niềm tin không mạch lạc và tự hủy hoại (incoherent and self-subverting), nhưng tôi không thể nhắc lại toàn bộ lý luận trong thảo luận ngắn ngủi hơn này. Tôi đề cập đến tác phẩm trước đây, và nhiều tính khoa bảng hơn, để trường hợp vài người đọc đang tìm kiếm một phiên bản tương đối mở rộng hơn của một số các lời phê bình tôi trình bày ở đây khi áp dụng Dawkins, Harris, và Hitchens.

Tôi tiến hành như sau:
Trong chương 1, tôi hỏi chủ thuyết vô thần mới mới đến chừng nào. Trong chương thứ nhất, tôi nhằm cung cấp một tóm lược ngắn về các tuyên bố của từng người trong ba tác giả của chúng ta, hỏi xem nếu có khía cạnh nào có thể xứng đáng được xem xét đặc biệt. Tôi nhận thấy rằng các tác phẩm được nghiên cứu cung cấp một phơi bày mới mẻ và đôi khi lý thú về các vấn đề quan trọng, nhưng chúng chủ yếu cũng giống như những điều đã ám ảnh các tôn giáo và các nền thần học nhiều thế hệ. Năm câu hỏi kiên định phát sinh từ bất cứ cuộc thảo luận nào về chủ thuyết vô thần, và các câu hỏi đó được dùng làm chủ đề cho các chương 3-7:
Thần học có quan trọng gì không (chương 3)?
Thiên Chúa có phải là một “giả thiết” (hypothesis) mà khoa học có thể xác nhận hay từ khước không (chương 4)?
Tại sao con người lại nghiêng về niềm tin tôn giáo (vào chương 5)?
Chúng ta có thể tốt mà không có Thiên Chúa không (chương 6)?
Ý tưởng về một Thiên Chúa có tính con người có thể tin được không trong một thời đại khoa học (chương 7)?
Chương 2 chỉ hỏi chủ thuyết vô thần mới vô thần đến chừng nào.

Một Nietzsche, Camus, hay Sartre nghĩ gì về Dawkins, Harris, và Hitchens? Ở đây tôi phân biệt giữa chủ thuyết vô thần “hạng nặng” (hard-core) của nhiều chỉ trích cổ điển về tôn giáo một bên, và bên kia là đặc tính “hạng nhẹ” (soft-core[vi]) đa dạng mới của các người vô thần mới. Rôi tôi hỏi các cách đo lường của nhóm sau hay ho chừng nào so với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của nhóm trước. Cuối cùng, trong chương 8, tôi cống hiến một câu trả lời cách riêng theo Kitô giáo cho các câu hỏi biện giải trong các chương 3-7.

Với một số người đọc, chương cuối cùng sẽ xem ra như tùy chọn, cho dẫu với riêng tôi đó là chương quan trọng nhất. Bảy chương đầu của tôi tránh xử lý chủ thuyết vô thần mới theo quan điểm thuần túy Kitô giáo. Thay vào đó, phê bình của tôi theo thể loại thế nào để những người hữu thần không Kitô giáo (cách riêng người Do thái và Hồi giáo tin vào Thiên Chúa), cũng như những người vô thần và không thể biết được (agnostics[vii]) có thể theo dõi dễ dàng. Chỉ trong chương kết luận tôi mới phác họa một đáp ứng theo thần học Kitô giáo. Tôi chứng tỏ trong chương 8 rằng những gì các người vô thần mới của chúng ta hiểu về “Thiên Chúa” gần như chẳng có gì liên quan đến những gì đức tin và thần học Kitô giáo ngày nay hiểu về tên gọi này.

Càng đi sâu vào việc viết sách này, càng có nhiều chứng cứ hơn cho tôi rằng tôi đang cống hiến một phê phán không chỉ về chủ thuyết vô thần mới mà còn về thể loại tư duy tôn giáo, đạo đức, và tâm linh mà cuốn sách này phản ứng chống lại. Tôi gợi ý rằng có các cách thay thế thần học đáng tin cậy và hấp dẫn cho cả hai. Tuy nhiên, cho dẫu các người vô thần mới từ khước Thiên Chúa của những người tin vào thuyết sáng tạo, cơ bản, khủng bố, và những người bảo vệ thiết kế thông minh, không phải không hấp dẫn khi thấy họ đã quyết định bàn cãi với các người cực đoan đó hơn là với bất cứ nhà thần học chính yếu nào. Việc chọn lựa người đối kháng này phản bội sự tôn trọng vô ý thức của họ các phiên bản theo nghĩa đen và bảo thủ của tư duy tôn giáo trên các thể loại dòng chính theo truyền thống hơn—điều họ hoàn toàn làm ngơ và ngấm ngầm từ khước vì tính không chính thống của họ. Thực sự các người vô thần mới này đang nói nếu Thiên Chúa quả thực hiện hữu, chúng ta phải cho phép nhân dạng của vị Thiên Chúa này được những người theo thuyết cơ bản (fundamentalists) của các truyền thống tôn giáo Abraham chỉ định ra một lần dứt khoát. Tôi tin họ đã chọn chiến thuật này không chỉ để làm cho công việc hủy hoại của họ dễ dàng hơn mà còn bởi vì họ thán phục khó che dấu nổi sự đơn giản của các quan điểm của phe đối lập với họ về thực tế. Chứng cứ rõ nhất việc họ bị thu hút vào một quan điểm thế giới không phức tạp có thể tìm thấy trong việc họ trung thành với giả định thậm chí đơn giản hơn của chủ thuyết thiên nhiên khoa học.

(Cước chú cuối bài là của tác giả trừ phi có ghi là của người dịch [nd])
Richard Dawkins, The God Delusion (New York: Houghton Mifflin, 2006); Sam Harris, The End of Faith; Terror, and the Future of Reason (New York: W. W. Norton & Co., 2004); and Letter to a Christian Nation (New York: Knopf, 2007); Christopher Hitchens, God Is Not Great: How Religion Poisons Everything (New York: Hachette Book Group USA, 2007)
[ii] Victor J. Stenger, God: The Failed Hypothesis: How Science Shows That God Does Not Exist (Amherst, N.Y.: Prometheus Books, 2007); Carl Sagan, The Demon-Haunted World: Science as a Candle in the Dark (New York: Ballantine Books, 1997); Steven Weinberg, Dreams of a Final Theory (New York: Pantheon, 1992); Michael Shermer, How We Believe: The Search for God in an Age of Science (New York: W. H. Freeman, 2000); Owen Flanagan, The Problem of the Soul: Two Visions of Mind and How to Reconcile Them (New York: Basic Books, 2002).
[iii] Daniel Dennett, Breaking the Spell: Religion as a NaturalPhenomenon (New York: Viking, 2006)
[iv] Xem số 2 trên
[v] Personal God: Một quan điểm thần học về Thiên Chúa, không phải là con người nhưng có tính con người. Có các tài li
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 17.04.2010    Tiêu đề: CÂU LẠC BỘ SÁNG TÁC "VĂN" CÔNG GIÁO Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU LẠC BỘ SÁNG TÁC "VĂN" CÔNG GIÁO

TRANG 3



Kính thưa Quí Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả kính mến.

Chúng ta hiểu được tình yêu, cảm nhận được tình yêu, đó là nhờ sự hy sinh của Chúa Giêsu đã hiến thân mình trên thập giá. Chính nhờ cái chết của Ngài mà chúng ta mới khám phá được một chiều kích mới của tình yêu: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì người mình yêu”. Từ đó, cho chúng ta có một cái nhìn vượt lên trên mọi thực tại trần thế này để hướng về một sự sống vĩnh cửu.

Chúng ta đang sống trong giai đoạn cao điểm của tình Yêu, một giai đoạn mà đòi hỏi chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoát: “Yêu hoặc Không Yêu”. Cảm tạ Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Ngài trên mỗi chúng ta đã chiếu soi và ban thần khí của Chúa xuống cho tâm hồn chúng ta để chúng mới có khả năng viết lên những ngôn ngữ của Tình Yêu qua những tác phẩm trong TRANG VĂN – 03 này.

Nguyện xin Chúa, Mẹ Maria, và Thánh cả Giuse chúc lành và tuôn đổ muôn Hồng Ân xuống cho TRANG VĂN nhỏ bé của chúng con.


Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo
Đồng Xanh Thơ Sài – Gòn


Kính dâng lên Chúa, Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse. Cùng kính gởi đến Qui Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả:


Tác phẩm Tác giả

Người Nữ Y Tá Chiều Hôm Ấy Lm. Nguyễn Kim Anh
Phêrô Chối Thầy Lm. Nguyễn Tầm Thường
Nơi Em Về Ngày Vui Không Em Trần Ngọc Mười Hai
Những Đồi Sim Trần Ngọc Mười Hai
Mẹ Ơi! Đừng Bỏ Con Trần Hữu Thuần
Đêm Tịch Lặng An Thiện Minh
Vườn Hoa Thiên Quốc Đỗ Thảo Anh
Lá Thư Gởi Về Trời Vũ Thủy
Tâm Sự Với Chúa Sông Lam
Nhật Ký Viết Cho Em Hoàng Trinh
Nội Ơi! Sông La
Kỷ Niệm Ngày Cưới K.H
Tình Chúa – Tình Người A.P Mặc Trầm Cung
Chủ Nghĩa Vô Thần Mới, Mới Chừng Nào? Trần Hữu Thuần


Kính thưa Quí Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả kính mến.

Đồng Xanh Thơ Sài Gòn mỗi tháng phát hành 2 kỳ vào ngày 1 và 15 hằng tháng. Rất mong nhận được sự ưu ái quan tâm của quí vị, đóng góp ý kiến xây dựng cho Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo mỗi ngày được phát triển tốt đẹp theo đường hướng của Giáo Hội, cùng đóng góp bài vở cho TRANG VĂN của chúng ta ngày càng thêm phong phú, các bài văn xuôi của quí vị mang tâm tình ngợi khen Thiên Chúa, diễn tả Tình yêu Thiên Chúa trong cuộc sống, sáng Tình Chúa, đậm tình người đều được Câu Lạc Bộ trân trọng đón nhận.

Bài vở xin quí vị gởi về trước ngày 12 để phát hành số ngày 15 và trước ngày 28 để phát hành số ngày 1 tháng tới. Các bài được chọn sẽ đăng trên trang Đồng Xanh Thơ Sài Gòn của website www.dunglac.orgwww.tamlinhvaodoi.net và được gởi đến trên 10.000 địa chỉ mail của các độc giả trong nước và hải ngoại.

Bài vở xin quí vị gởi về:
Hoàng Thi Ca.
Email: [email protected]
Chân thành cám ơn quí vị


*********************

NGƯỜI NỮ Y TÁ CHIỀU HÔM ẤY

Lm. Nguyễn Kim Anh


(Riêng tặng nữ y bác sĩ BV Lagi)


Năm giờ chiều
Bàn phát vé trống trơn, các phòng khám không còn ai. Người ta thay bộ đồ trắng nghề nghịêp mặc vào bộ thường phục của mình. Người ta sống cá tính của mình hơn. Có những kẻ vội vả ra về với gia đình. Kẻ khác tụm năm rụm ba tán gẩu nhìn những người chơi bóng chuyền, trên khuôn mặt vẫn chưa thóat khỏi nổi ám ảnh của ngày dài chiến đấu với bệnh tật.

Lạy Chúa con nhìn thấy trên khuôn mặt ấy hằn nét bơ vơ cô độc.
Suốt ngày đôi bàn tay đó đã săn sóc xoa diu đớn đau cho nhiều người.
Gương mặt ấy đã ghé sát, cúi xuống trên những vết thương chảy máu hôi thối .
Đôi môi khô khan ấy đã nói lên những lời an ủi khích lệ những cụ già tuyệt vọng, những em bé sợ hãi.

Năm giờ chiều

Không còn những con người đau đớn ở đó, không còn những vết thương chưa băng bó, không còn những đứa bé sợ hãi và những cụ già chán chường, những thiếu phụ rên rỉ nhưng còn phảng phất trên khuôn mặt nàng nỗi cô đơn lẻ loi bất tuyệt.

Đã cho nhiều nhưng chưa hề lãnh nhận
Đã yêu nhiều nhưng lấy chẳng bao nhiêu
Lạy Chúa con cầu nguyện cho người nữ y tá không quen ấy.

Xin cho nàng kiên trì làm việc và mãi mãi yêu thương
cho đôi tay nàng dẻo dai bền bỉ
cho gương mặt khả ái hiền lành
cho đôi môi và nụ cười mềm mại vui tươi
cho con tim nàng luôn rộng mở.

Lạy Cha, người y tá đó chưa biết Cha, chưa biết tình yêu của Cha, chưa biết mình là người con yêu dấu của Cha.

Nên còn thiếu niềm vui và niềm hy vọng
Nên nàng vẫn cô đơn bất tuyệt.
Xin cho nàng gặp con Cha đức Giêsu Kitô, để nàng học nơi Ngài yêu thương và biết yêu thương, theo gương mẫu cuộc đời sống tận cùng cho tình yêu của Ngài.

Xin cho nàng biết Cha,
Để mọi khi nàng săn sóc đồng lọai nàng biết rằng nàng đang săn sóc Cha qua hình ảnh anh em mình.
Xin cho nàng đừng vì những khó khăn củộc đời mà ngừng đi yêu thương mà ngừng đi hiến thân phục vụ.

Xin Cha ban cho nàng niềm vui, niềm hy vọng và niềm cậy trông
Nhất là nàng nhận được sự biết ơn của đồng lọai
và xin cho nàng gặp được người bạn đời xứng đáng
và cuộc đời nàng là một thành tựu yêu thương.

Phước An.
Lm. Nguyễn Kim Anh
[/align


[align=center]PHÊRÔ CHỐI THẦY

Lm. Nguyễn Tầm Thường


Phêrô đang ở dưới sân, một người đầy tớ gái của thượng tế đi tới; thấy ông ngồi sưởi, cô ta nhìn ông chòng chọc mà nói:
- Cả bác nữa, bác cũng ở với cái ông người Nadarét, ông Giêsu đó chứ gì!
Ông liền chối:
- Tôi chẳng biết, chẳng hay cô muốn nói chi!

Chối lần thứ nhất:
Nhìn kỹ đoạn văn trên, ta thấy những chi tiết sau:
Một - Chỉ có một, không phải hai.
Ðứa tớ - Ðầy tớ, không phải người địa vị.
Gái - Tớ gái, không phải trai.
Như vậy, kẻ Phêrô gặp mặt tối đó là người mang địa vị thấp nhất trong xã hội bấy giờ. Chỉ một đứa, lại là đứa đầy tớ, mà lại là tớ gái! Thế mà Phêrô hoảng sợ. Làm sao lại có thể sợ hãi trước một người không quyền hành, không địa vị gì như thế? Chỉ là một tớ gái!
Cung cách của Phêrô chối nữa, ông chối bằng ngôn ngữ rất đặc biệt:
Tôi chẳng hay chẳng biết chị muốn nói chi!
Chợt nghe câu đó, người nghe xem ra như ông đâu có chối. Ông chối rất nhẹ nhàng. Ông làm bộ như không rõ chuyện gì. Ngôn ngữ hôm nay, người ta bảo là kiểu nói đánh trống lảng.

Chối lần thứ hai:
Tin Mừng kể tiếp:
Rôì ông bỏ đi ra phía tiền đường. Bấy giờ có tiếng gà gáy. Người tớ gái thấy ông, lại bắt đầu nói với những người đứng đó:
- Bác này cũng thuộc bọn chúng đấy.Ông Phêrô lại chối.
Qua đoạn văn trên, người đọc thấy sau khi chối lần thứ nhất xong, ông không còn ngồi chỗ đó nữa. Ông đi ra phía ngoài cổng. Như vậy, đối với khoảng cách trong không gian là ông xa Chúa thêm một khúc đường rồi. Chối lần thứ nhất ông còn ở giữa sân, còn gần Chúa. Bây giờ bỏ đi ra ngoài. Cái xa cách không gian ấy diễn tả một khoảng xa hơn trong tâm hồn. Nó là một khoảng tội nặng hơn.
Lúc nẫy ông chỉ đối diện với một đứa tớ gái thôi. Bây giờ đứa tớ gái nói với "những người có mặt". Như thế, ông đối diện với nhiều người. Chối Chúa lúc nẫy trước mặt một người, tội nhẹ hơn trước mặt nhiều người chứ. Hai lần chối không mang mức độ giống nhau. Lần này xa hơn, nặng hơn. Ông chối Chúa công khai hơn.

Chối lần thứ ba:
Lần thứ ba này Tin Mừng Máccô cho biết những chi tiết cuộc chối bằng ngôn ngữ rất tinh vi, rất chính xác. Chính xác trong chi tiết để diễn đạt cái tang thương của Phêrô. Tin Mừng kể:
Một lát sau những người đứng đó lại nói với ông:
- Ðúng là bác thuộc bọn chúng, vì bác cũng là người Galilê!Nhưng ông Phêrô liền thốt lên những lời độc địa mà thề:
- Tôi thề là không hề biết người các ông nói đó. (Mc 14:70-71).
Ở đây có bốn điểm chú ý, người đọc cần ghi nhận trong lần chối thứ ba này:
1. Không phải là một người tố cáo nữa mà là "những người có mặt" đều tố cáo. Một người tố cáo, ít nguy hiểm hơn nhiều người.
2. Tố cáo này xác đáng vì đi vào chi tiết lịch sử của Phêrô, họ nhận ra giọng nói của ông là người Galilê, họ biết rõ gốc gác, còn chối vào đâu?
3. Vì hai lý do trên, lần này Phêrô không chối nhẹ nhàng như lần đầu, ông lấy lời "độc địa mà thề".
4. Câu ông thề là: "Tôi không hề biết con người đó là ai".
Như thế, ông quyết liệt công khai chối bỏ liên hệ với Ðức Kitô để cứu lấy mạng sống. Bây giờ ông không cần biết con người ấy là ai nữa. Ông chỉ biết làm sao thoát thân trong lúc này.
Xét trong ba lần chối, người đọc thấy rõ tiến triển của ba lần khác nhau. Mỗi lần nặng thêm chứ không phải ba lần giống nhau. Ba lần chối như ba nấc thang của một con dốc xuống vực sâu. Mỗi lần là một bực sa xuống sâu hơn, sâu hơn nữa.
Giờ đây nhìn lại đời Phêrô, ta thấy thảm cảnh bi đát của thân phận một con người. Con người này làm được gì? Cả đời ông toàn là lỗi lầm. Cứ mỗi lúc ông lại lỗi nặng hơn. Lầm lỗi ngay khi theo Chúa ba năm trước ở biển hồ Galilê cho đến ba năm sau, giây phút sau cùng trước khi Chúa chết vẫn cứ lầm lỗi.

Bi kịch trên là thảm cảnh não nề cho đời Phêrô. Bi kịch ấy cũng là thảm cảnh não nề cho Ðức Kitô, một Rabbi mà có một môn đệ kém như thế. Nhưng đàng sau bi kịch này, đâu là mối dây liên hệ của hai người? Ta hãy tìm hiểu.

Chắc chắn Phêrô thương Thầy. Sau khi Chúa bị bắt, các môn đệ khác bỏ chạy. Phêrô cũng thế, nhưng không chạy xa. Không biết Thầy mình ra sao, ông trở lại, lẻn vào dinh thượng tế nghe ngóng. Nếu ông bỏ Ðức Kitô chạy xa thì đâu xảy ra nông nỗi này. Tội nghiệp cho ông vì ông thương Chúa.

Chiều sâu phía bên kia lỗi phạm của Phêrô vẫn có tình thương. Nói về tình thương sâu kín này, ta hãy ngoảnh lại nhìn một chút về chuyện Phêrô bị mắng lần thứ hai xem sao. Lần đó, Chúa mắng Phêrô "ngu tối". Giả sử hôm đó Phêrô lặng im đừng hỏi thì đâu bị mắng. Lời xin của Phêrô: "Thưa Thầy xin giải thích dụ ngôn đó cho chúng con" đã đưa Phêrô vào tròng. Lời xin ấy nói rằng Phêrô chậm hiểu. Vì lời xin đó, ông bị mắng. Ðàng sau lời xin, cho ta thấy chiều sâu trong trái tim, ông quý lời của Chúa. Không hiểu, ông hỏi chứ không im lặng bỏ qua. Có thể vài môn đệ khác cũng không hiểu. Nhưng đối với Phêrô, ông quý lời của Chúa. Ông không để lời đó trôi đi. Bằng chứng khi có người bỏ Chúa, Chúa hỏi các môn đệ có bỏ Chúa không. Phêrô là người thưa trước tiên: "Thưa Thầy, bỏ Thầy con biết theo ai, Thầy có Lời ban sự sống" (Yn 6:68). Ta thấy tội nghiệp Phêrô. Ông có yếu đuối, lỗi phạm nhưng luôn có trái tim.
Ðối với Chúa, Chúa phải mang cái bi thảm của một môn đệ chậm hiểu, kém tin, hành động lung tung. Nhưng Chúa không bỏ môn đệ này trong yếu đuối, người môn đệ này có một tâm hồn.

Phêrô chối Ðức Kitô vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu. Trước cái chết, Phêrô rùng mình chối bỏ, tìm đường trốn. Nhưng trước yếu đuối ấy Phêrô đã khóc. Nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình, ông òa khóc nức nở.
Ðời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mạnh, giữa trọn vẹn và dang đở, giữa xa và gần, giữa trời và đất. T rái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Ðời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại, có lên cao gặp vực sâu.
Theo sát lời tường thuật của Phúc Âm, ông lầm lỗi và bị mắng nhiều quá. Tuy nhiên, có điều trong trái tim ông, Chúa có một chỗ đặc biệt. Trong tất cả trăn trở ấy, tim ông có một ước mơ. Cho dù yếu đuối, ông vẫn có một ước mơ. Cho dù chơi vơi giữa dòng nước, ông vẫn có một ước mơ. Ông thương Thầy mình.
Ðức Kitô không đếm chân ông đã bước được những bước thánh thiện nào. Ngài cũng không chối từ vì ông đã bước sai bao nhiêu bước. Ngài chỉ nhìn vào ước mơ trong trái tim ông. Và ở ước mơ đó, Thầy trò họ gặp nhau.

Lạy Chúa, Chúa không lầm khi chọn người môn sinh yếu đuối.
Chúa không sa thải lúc người môn sinh lỗi phạm.
Chúa lấy kiên nhẫn dẫn đi.
Chúa là Thầy dạy lấy tình thương chịu đựng.
Chúa nhận thập giá về phía mình để người môn sinh được nâng lên cao.
Chúa không lầm khi gọi Phêrô.
Lúc nào trong tim con có mơ ước theo Chúa, Chúa sẽ không nhìn đến yếu đuối của con, chỉ nhìn vào ước mơ ấy trong tim con thôi.

Lm. Nguyễn Tầm Thường
Trích trong “Cô Đơn và Sự Tự Do”


NƠI EM VỀ NGÀY VUI KHÔNG EM

Trần Ngọc Mười Hai


Nơi em về trời xanh không em
Ta nghe từng giọt lệ
Rớt xuống thành hồ nước long lanh.
(Trịnh Công Sơn - Như Cánh Vạc Bay)
(2Th 3: 1)
Nếu có hỏi, nơi đi/chốn về của người em, mà lại hỏi kiểu đó, thì e rằng người em mình sẽ cho cả ông anh lẫn anh ông đi Tây, chín tầng mây. Cho được việc. Đi Tây, là: thướt tha những “đi tướt” về chốn miền đầy lả lướt. Ở trời cao. Cứ nghêu ngao ba câu hát. Trong lành. Lanh chanh. Đỏng đảnh.

“Đi Tây” đây, còn lao xao ba câu hát, nơi khu làng tỉnh lẻ rất Nước Trời, ở miệt dưới. Rất Sydney. Lao xao, vào ngày chưa vui, đã thấy rầu. Đúng hơn, phải nói: vui buồn lẫn lộn. Vui, vì được tổ chức thánh lễ Tân niên vào Chủ nhật. Rầu, vì đầu năm đầu tháng “đức thày” vừa xin Chúa xá tội xong, đã phiền lòng vì ban phụng vụ chọn không đúng bài đọc. Nên, đức thày mới lúng túng. Nên, đức thày cứ phải giảng và dạy về “chay lòng”, “kiêng thịt”. Có phạt xác, từ Lễ Tro. Phạt xác, theo đức thày, vì xác phàm quá tội lỗi. Và, đức thày cứ thế mà dạy về luật. Chẳng giảng Lời Chúa. Phúc Âm.
Thôi thì, bạn và tôi, bà con mình hãy cứ để lại đằng sau, chuyện phạt hay không phạt “Đền thờ của Chúa Thánh Thần”, mùa Chay kiêng. Chỉ xin hầu chuyện bà con/bầu bạn, ba câu chuyện về tâm tịnh, mà đón chào Lời Chúa. Như người nghệ sĩ viết về giòng suối “đón từng bàn chân em”, như sau:

“Suối đón từng bàn chân em qua,
Lá hát từ bàn tay thơm tho,
Lá khô, vì đợi chờ
cũng như đời, người mãi âm u.” (TCS – bđd)


Chẳng cần biết, có phải “đời người mãi âm u” là vì “bàn chân em qua”, hay em đến. Lá có khô vì đợi chờ. Chờ ngày vui. Người trông ngóng hay không. Nhưng, thật ra, lá có khô hay ướt chắc cũng chẳng vì đời cứ âm u. “Đi tướt”. Mà, có lẽ do vì người người cứ nhìn đời và nhìn trời, từ góc nhìn của đời người, rất khác biệt. Khác, như một nhận định khác, từ vua/quan nơi truyện kể, ở bên dưới:

“Có vua nọ, quyết treo giải cho hoạ sĩ nào vẽ tranh đẹp, về bình yên. Tâm tịnh. Nghe chiếu chỉ vua ra, nhiều vị hoạ sĩ quyết ra tay cố vẽ cho được bức tranh đẹp. Vua ngắm kỹ, chỉ thích mỗi hai bức. Tuy có thích, nhưng vua chỉ chọn bức nào tuyệt kỹ nhất, thôi.

Một trong hai bức vua chọn, là nói về nước hồ êm ả. Có mặt hồ, một tuyệt cảnh. Có núi non cao chót vót. Có, trời xanh. Mây trắng. Rất bềnh bồng. Lững lờ trôi. Người người chiêm ngắm đều thấy bức tranh “bình yên”, quả thật tuyệt.

Tranh thứ hai, cũng có núi có rừng trùng điệp. Có cả đá tảng. Rất chơ vơ. Ở bên trên, là cả bầu trời đầy giận dữ. Đã đổ mưa. Sấm sét. Ồn ào. Náo động, cả một cõi. Ngay cạnh vách núi, là giòng thác cuồn cuộn, bọt trắng xoá. Chẳng an bình. Cũng không thanh cao. Chút nào.

Vua ngắm bức tranh thật lâu. Bỗng, vua thấy ngay phía sau giòng thác chảy, có bụi cây nhỏ mọc từ khe nứt, của đá. Ở nơi đó, giữa giòng thác giận dữ trút nước, có con chim mẹ thản nhiên đậu trên cành, ở bên tổ. Cạnh đó, chim con bầu đàn tíu tít, về với mẹ. Cảnh bình yên. Tâm rất tịnh.

Vua tuyên bố: “Ta chọn bức tranh này. Rất bình và cũng yên. Bình và yên, đâu chỉ mỗi chốn vắng, không ồn. Nhiều giận dữ. Yên và bình, nằm ngay trong khung cảnh đầy phong ba/giận dữ ấy. Bình yên/thanh tịnh, chỉ hiện diện nơi trái tim mình. Đó, chính là ý nghĩa đích thực, của bình yên.”

Nếu vua kia là nhà giảng thuyết rất đức độ, hẳn là vua còn sẽ bảo: thế đó, là chay lòng. Tịnh tâm. Của mùa Chay. Có Đức Chúa. Thế đó, là bình yên. Rất thanh và rất tịnh. Ở trong tranh. Bình yên của cuộc đời, còn hơn thế. Và, đây cũng là câu hỏi, của nhiều người. Từng hỏi. Và, từng nói. Vào buổi lễ thanh cao. Có chay lòng. Tâm tịnh. Nhiều vị bảo: bình yên/tâm tịnh, là trạng thái về với Thơ. Rất yên. Và cũng rất tịnh. Chính đó là Lời Chúa. Chính đó, như có người từng gạn và hỏi, ở bên dưới:

“Tôi lớn lên, nơi khung trời thanh tịnh/bình yên ở gia đình Công giáo toàn tòng. Lúc nào trong nhà cũng Kinh. Cũng Sách. Nhưng chẳng thấy ai lần giở trước đèn. Để rồi đọc. Nay, tôi lại thấy rất nhiều người, Công giáo cùng đạo Chính thống, biết bỏ giờ ra, mà suy, mà đọc. Đọc và suy, xong còn tìm hiểu. Nhiều thích thú. Nay, xin ngài giải thích sao lại có chuyện đó, vừa xảy ra? (Lại thêm một người gạn hỏi, nhưng không ký tên).

Hỏi, mà không ký. Tức cũng chẳng quyết điều gì. Nhưng, vẫn được đức thầy linh mục họ Flader tên gọi là John, rất Sydney, như sau:

“Tôi đây cũng kinh nghiệm rất từng trải, từ gia đình Công giáo, lúc nào cũng có Thánh kinh để ở trong nhà. Luôn bỏ ngỏ. Sách rất to. Đặt nơi cung kính, để mọi người trong nhà có thể chiêm ngưỡng, có suy tư. Tôi nhớ không lầm, thì chính tôi cũng chưa một lần từng để mắt. Và, cũng chẳng có ai trong gia đình, theo tôi biết, đã sở chạm và đọc những gì viết trong đó. Bởi, sự thể là Sách quá to. Không di chuyển được. nên chẳng khuyến khích người nào cầm lên mà đọc.

Nhiều Sách thánh. đặt để trong nhà, chỉ cốt để mọi người nhớ ngày rửa tội, thêm sức, cùng rước lễ lần đầu, ghi rõ ở trong đó. Chừng như, đó vẫn là mục đích tiên khởi, của người đặt.

Sách thánh ghi Lời Chúa, để ở vị trí trang trọng bên trong nhà, còn mang ý nghĩa xác nhận một kiểm tra căn cước, rằng nhà mình là Công giáo. Cũng tựa như theo thánh giá hoặc ảnh Trái tim Lòng thương Xót Chúa, ảnh Đức Mẹ. chứ đâu để mình đọc và suy ngắm. chuyện ấy đâu đã cần. Đặt sách như thế, là để nhắc nhở mình, nhắc nhở khách ghé thăm, chúng tôi là người Công giáo, chánh gốc. Có Phúc Âm.

Điều vừa kể, xem ra hơi hài hước. Nói như người đời, là: chuyện tưởng như đùa. nhưng có thật. Một sự thật, mà nhiều người Công giáo vẫn có kinh nghiệm từng trải, nhiều thế kỷ.

Quả là, thái độ này bắt nguồn từ các nhà Cải cách người Thệ Phản, hồi thế kỷ thứ 16. Khi từ bỏ Giáo hội –nhiều khi các vị này nghĩ Giáo hội Công giáo La Mã có sai sót, thối nát. Và nhiều trường hợp, nói cũng đúng- nên mới bỏ cả truyền thống vốn có từ ngàn xưa. Các vị bèn về với Thánh Kinh, để biết và hiểu điều Chúa muốn, với con người.

Đây là nguyên tắc mà tiếng Latinh gọi là “sola scriptura”, tức: duy chỉ có Kinh Thánh mới là nguồn cội của niềm tin và Mặc khải từ Thiên Chúa. Và, người Công giáo vẫn biết là chỉ với Kinh thánh thôi, cũng không đủ. Như tôi từng nói, Truyền thống sống động của Hội thánh mới cho ta Sách Thánh Kinh vào đầu hết. Và, có Chúa Thánh Thần soi sáng, Hội thánh mới có thẩm quyền dẫn dắt ta hiểu thấu đáo Thánh Kinh. nên, khi người người tìm cách dẫn giải Kinh thánh, tự khắc gây ra nhiều tranh cãi, không bao giờ chấm dứt.

Đó, cũng là lý do mà tại sao ngày nay có đến cả chục ngàn nhóm hội đoàn thể vẫn cam quyết rằng niềm tin của mình đặt căn bản trên cùng một Sách thánh.

Để phản bác lại những sai lầm của nhóm Cải cách hổi thế kỷ thứ 16, người Công giáo đước khuyến khích hãy nghe theo lời giáo huấn của Hội thánh. Chỉ Hội thánh mới xứng đáng dẫn giải về Kinh thánh cho mình. Giáo dục mình về những điều mà Chúa muốn mình am tường.

Kết quả là, suốt 4 thế kỷ sau đó, người tín hữu không được khuyến khích đọc thẳng Sách thánh, mặc dù có sự kiện là các nhà in/nhà xuất bản đều vẫn muốn Sách thánh được phổ biến tràn lan, khắp mọi chốn.

Dầu sao đi nữa, người Công giáo vẫn quen thuộc với Sách thánh, ngang qua các bài đọc hành tuần, vào thánh lễ Chúa nhật. Vào khi bẻ bánh Lời của Chúa, ta được nghe đọc cả phần Cựu Ước lẫn Tân Ước. Sau đó, còn được vị chủ tế hoặc thầy phó tế dẫn giải bằng các bài chia sẻ hoặc thuyết giáo, như vẫn gọi. Cùng một lúc, các trẻ em cũng được học hỏi các phần quan trọng trong truyện tích Sách thánh, tại trường lớp hoặc tư gia, có phụ huynh dẫn dắt.

Công Đồng Chung Vatican II cũng đã đem lại luồng gió mới trong thái độ đón nhận và đọc Sách thánh, mà lâu nay giáo dân vẫn thực hiện. Đặc biệt là chương cuối của Hiến Chế Tín Lý về Mặc Khải từ Chúa có tên gọi là Dei Verbum đã khích lệ mọi người nên đọc Sách thánh, một cách tích cực. Trong đó, Hiến chế đã có những lời như sau:

“Đại để là, Thượng Hội Đồng rất thánh đã mạnh dạn và đặc biệt khuyến khích các tín hữu Chúa, biết cách mà học hỏi những gì thánh Phaolô từng xác quyết:‘mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi’ (Pl 3: 8). Đó là do năng đọc Sách thánh, như tổ phụ Giêrônimô minh chứng: “Không biết Sách thánh, là chẳng biết Chúa.” (Thánh Giêrônimô, Comm. in Isaias, Lời bạt)

Thành thử, có ham đọc học hỏi sách tu đức thánh thiêng, thì “Lời Chúa mới mau chóng phổ biến và được tôn vinh” (2Th 3: 1). Có như thế, kho tàng Chúa mặc khải vốn gắn liền với Hội thánh, mới lấp đầy tâm can con người.” (x. Dei Verbum, 25-26)

Ngày hôm nay, con số nhóm hội/đoàn thể học hỏi Sách thánh trong Giáo Hội Công giáo gia tăng một cách đáng kể. Nhiều giáo dân, đã tham gia các khoá dẫn giải Kinh thánh theo nhóm hoặc theo tư cách cá nhân riêng lẻ.

Cũng là chuyện nên làm, nếu người Công giáo quyết bỏ ra mỗi ngày vài ba phút để đọc Kinh thánh, ít ra là Tân Ước. Cũng là điều tốt. Có như thế, mọi người chúng ta, cũng như toàn thể Hội thánh và xã hội, sẽ được chúc phúc, rất nhiều.” (x. John Flader, The Catholic Weekly 14/2/10, tr.10)

Nói theo bài bản, tức: có sách có lý chứng, thì như thế. Nhưng nói lý sự, theo sự việc và cuộc sống hằng ngày, ở huyện, như chuyện “Nơi em về, ngày vui không em”, còn là như nói và hát, những lời người nghệ sĩ mừng mừng tủi tủi, như:

“Gió sẽ mừng vì tóc em bay,
cho mây hồn ngủ trên đôi vai.
Vai em gầy guộc nhỏ,
Như cánh vạc về chốn xa xôi.” (TCS – bđd)


Nói theo lời một linh mục còn-khá-trẻ, ở Nữu Ước nước Hoa Kỳ là nói về tình hình có tâm rất tịnh hay không tịnh, ở một số người Công giáo đó đây, như sau:

“Có nhiều người rất thích linh mục đến giảng tĩnh tâm và đặt tay chữa bệnh. Phần tĩnh tâm thì không cần thiết lắm. Phần nhận ơn và chữa lành mới là phần quan trọng. Chính tôi đã thấy, gần giờ kết thúc các buổi tĩnh tâm, có nhiều người tìm đến chỉ để được chữa bệnh và xin ơn.” (x. Lm Giuse Trần Việt Hùng pp, Đặc Sủng Về Ơn Lạ: Cứu cánh không biện minh cho phương tiện, www.giadinhanphong.blogspot.com , DIA số 69)

Và, nói về tâm tịnh có suy niệm, là nói rất nhiều. Dù, làm chẳng được bao nhiêu. Bởi, đời người thường nói nhiều, chứ đâu làm nhiều. Chí ít, là tâm chưa tịnh để cứ làm mà không nói. Làm, là làm theo Lời Chúa. Còn nói, thì nên để Chúa nói cho mình. Cho người. Dù, người ấy có ở trong Đạo, hay ngoài đời. Suốt đời người.

Trần Ngọc Mười Hai
vẫn cứ xin
nghe, học hỏi, hiểu biết
rất nhiều điều.
Hơn là nói.
























NHỮNG ĐỒI SIM
đồi tím hoa sim,”

Tím cả chiều hoang biền biệt”

(Phạm Duy/Hữu Loan – Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà)

(Ga 16: 20)


Nếu viết nhạc, để nói về mầu tím hoa sim, thì giòng nhạc phải được viết, rất như trên. Tức, như giòng chảy của Phạm Duy. Nếu làm thơ, mà lại nói về tình yêu chung thuỷ với người vợ, vừa mới cưới. Thì, lời thơ nên làm, phải như lời người thi sĩ, rất Hữu Loan. Thơ hay nhạc, về đồi tím “rất hoa sim”, đều mang mác nét trữ tình. Tim tím. Nhè nhẹ. Biền biệt. Như sau:

“Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.
Mầu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt.
Và chiều tím có chiều hoang biếc
Chiều tim tím thêm mầu da diết..”
(Hữu Loan – Mầu Tím Hoa Sim)


Thơ với nhạc ở trên, vẫn có câu: “Chiều hành quân, qua những đồi sim”. Hoặc, “áo anh, em viền tà. Nhớ người yêu mầu tím. Nhớ người yêu mầu sim”. Bần đạo, chưa một lần biết đến hành quân, hoặc nhớ người yêu “sim tím”, hồi thời chiến. Vì, chưa từng là lính chiến. Cũng không là “người trai khói lửa”, gì hết cả. Nên, xin ghi lại đôi giòng mang mác. Thi ca. Rất nhạc Việt. Để, nói lên cái “tim tím/tâm thiêng”, mà nhà thơ Nguyễn Hữu Loan, từng tự sự:

“Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng, thì thơ mới hay. Thơ hay, thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình/có tâm, thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó, tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó, tôi khóc như vậy, họ cho là khóc cái tình cảm riêng…

.........(Cắtt bỏ)......

.
Với nhà Đạo, thơ văn/nhạc tình đều có cả. Nhưng hỏi rằng, đã mấy người dám khóc. Dám bỏ tất cả, cho “Tình Yêu”. Chí ít, là yêu người. Yêu Đấng Bậc, mà mình chẳng bao giờ thấy. Cũng chẳng nghe. Thế mới biết, về Tình Yêu, luôn có sự trùng hợp/ăn ý giữa Lời Chúa, với lời thơ/tiết nhạc. Rất như sau:

“Thật, Thầy bảo thật anh em:
anh em sẽ khóc lóc
và than van,
còn thế gian sẽ vui mừng.
Anh em sẽ lo buồn,
nhưng nỗi buồn của anh em
sẽ trở thành niềm vui.”
(Ga 16: 20)

Xem như thế, trong mọi trường hợp, người khóc lóc/vãn than lại chính là mình. Còn lại, kẻ vui cười sởi lởi, vẫn là thế gian. Người ngoài. Vẫn cười đùa. Bình chân như vại. Thoải mái. Nếu cười người nhiều, thì hãy nhớ câu của thế gian: “Cười người hôm trước, hôm sau người cười”.
Quả là, Lời Thầy có nói:

“Nỗi buồn của anh em,
sẽ trở thành niềm vui.”
(Ga 16: 20)

Xem như thế, thì khóc lóc/vãn than chỉ là giai đoạn. Ban đầu. Chỉ âu sầu/buồn thảm, một đêm đen. Rất chóng vánh. Mau quên. Dễ sao nhãng. Còn lại, là chuyện lâu dài. Là, niềm an vui. Hạnh phúc. Vô tận. Là, chân lý ngàn đời. Của cuộc sống. Con người.
Trong cõi “tim tím” của tình yêu những thơ và nhạc, lại có bóng hình nho nhỏ. Biền biệt. Da diết. Của người con gái/phái nữ rất yêu đương. Và, đương yêu. Người con gái/phái nữ, thường vẫn yêu cả khi còn sống, lẫn lúc chết. Tình “tim tím”, “biền biệt chiều hôm” kia, cả nhà thơ lẫn nhạc sĩ, chỉ phơn phớt. Nói thoáng qua. Những là:

“Nhưng không chết người trai chiến sĩ
mà chết người gái nhỏ miền xuối.”
(Phạm Duy – bđd)

Hoặc:
“Từ chiến khu xa, nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại,
Lỡ người mình không về,
thì thương người vợ chờ,
bé bỏng chiều quê…”
(Hữu Loan, bđd)

Thực tế, đã diễn ra như lời tự sự của tác giả. Rất nhè nhẹ. Như sau:

“Cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi. Theo tôi suốt cả cuộc đời.” (x. Tác giả Mầu Tín Hoa Sim, bđd)

Chất thơ và tâm thiêng nhè nhẹ, còn nằm trong “ánh mắt nhìn thẳng” ấy. Nhưng tình thơ da diết và nỗi yêu “biền biệt”, nằm ở chữ. Vẫn cứ là:

“Đặc biệt, em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo. Em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn. Lúc thì vài quả ớt đỏ au. Lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn. Những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…” (x. Tác giả Mầu Tím Hoa Sim, bđd)

Thì ra, yêu đương không cần gì để nói. Khi đương yêu, “bạn tình nhỏ” của mọi người, vẫn cứ quan tâm/săn sóc người yêu, rất từng tí. Chỉ là “quả ớt đỏ”. “Trái chanh mọng nước”. Vẫn bằng cử chỉ nhè nhẹ. Dễ mến. Đáng yêu. Đáng yêu hơn, còn ở điểm: “người yêu bé bỏng” cứ lặng lẽ lấy áo của người mình yêu thương ra giặt. Bên bờ ao. Chăm sóc miên triền. Chẳng ngủ trưa. Vì ngủ nghỉ, là hạnh phúc rất “quý phái” dành cho người mình yêu. Mà thôi.

Với nhà Đạo, một tình tiết rất đáng yêu của “thành viên nhỏ”, trong cộng đoàn thời trước. Cũng nhè nhẹ. Rất đáng yêu. Đáng quý. Ở cộng đoàn. Thành viên nhỏ cộng đoàn, không làm nhiều. Nhưng, kết quả lại không thiếu. Vẫn nhè nhẹ. Thân thương. Ít người biết. Việc ít biết, là việc của “Chị Nuôi” mà thời xưa nhà Đạo có thói quen gọi là “Cô Sáu”. Cô chuyên giùm giúp Hội thánh. Rất thầm lặng. Chẳng bon chen. Chẳng đòi chức tước. Hoặc, công lênh. Gì hết.

Vừa qua, có độc giả của tuần báo Công Giáo ở Sydney bắc thang lên hỏi “đức thày” nhà Đạo, về vai trò “Cô Sáu” thời Hội thánh tiên khởi. Khi trước. Rất như sau:

“Bẵng đi nhiều năm, tôi được nghe nhiều học giả trong Đạo có nhắc đến vai trò của “Cô Sáu”, thời tiên khởi. Mới đây, tôi lại được một người bạn chỉ cho thấy rằng thì là: theo luật định do Công Đồng Can-Xê-Đô-Ni-a đưa ra, có một số qui định về việc tấn phong các Cô Sáu. Câu hỏi của tôi là: nếu ngày xưa, Hội thánh tiên khởi đã có Cô Sáu, thì bây giờ tại sao không? (Lại một người hỏi han nhưng không ký)

Hỏi mà không ký, vẫn có thể việc của một giáo dân hạng thứ. Rất phụ nữ. Cũng có thể, là chính tác giả, người giải mã. Chỉ muốn nêu vấn đề, chứ đâu muốn nêu tên. Nêu hay không nêu, người giải vấn đề lần này, vẫn là “đức thầy” của Tổng Giáo Phận Sydney, là người “anh lờ em mờ” (Lm) rất John Flader, như sau:

“Câu trả lời ngắn gọn của tôi, là KHÔNG. Vào thời Giáo Hội sơ khai cũng có “nữ phó tế” thật đấy, nhưng các chị không là phó tế theo nghĩa có đủ quyền của chức thánh, rất đúng luật. Các chị vẫn là giáo dân, như mọi người.

Ở đây, chúng ta nên nhớ: tiếng Hy Lạp diakonos là từ ngữ rất thông dụng để chỉ định người phụ giúp hoặc giúp việc, mà thôi. Từ này, không nhất thiết nói về đấng bậc vị vọng đã lĩnh nhận chức thánh, nói rất rõ.

Thánh Phaolô cũng đề cập đến vai trò của “nữ tá viên” (tức nũ trợ tá) trong thư gửi giáo đoàn La Mã, khi ngài nói: “Tôi xin giới thiệu với anh em, chị Phê-bê, người chị em của chúng tôi, là ‘nữ tá viên’ Hội Thánh Ken-khơ-rê. Mong anh em tiếp đón chị trong Chúa cách xứng đáng, như dân thánh đối xử với nhau. Chị có việc gì cần đến anh em, xin anh em giúp đỡ, vì chính chị cũng đã bảo trợ cho nhiều người, kể cả tôi nữa.” (Rm 16: 1-2)

Cụm từ “Nữ tá viên” thời đó chỉ có nghĩa như một nữ phụ giùm giúp, theo nghĩa rộng. Thế thôi.

Từ thế kỷ thứ III trở đi, ở nhiều nơi bên phương Đông, các nữ tá viên được chính thức lập ra hoặc thiết dựng là để phụ giúp, có vai trò tựa như công việc của của một người nữ chuyên hướng dẫn, phụ giúp trong nghi thức rửa tội, viếng kẻ liệt. Các chị là nữ giới, nên được chỉ định công việc tắm cho người bệnh, trao ban Mình Thánh Chúa, cho tiện hơn.

Vì lẽ đó, các chị thành một nhóm có cơ cấu/tổ chức trong Hội thánh, như phẩm trật của các bà goá. Ở một vài nơi, các chị gia nhập phẩm trật này bằng nghi thức có các đấng bậc đặt tay lên đầu mình.

Nữ tá viên như thế, tuyệt nhiên không lĩnh nhận chức thánh nào hết. Và, hoàn toàn khác với chức linh mục và phó tế theo nghĩa tuyệt đối, như đã nói rõ trong Hiến Chế Tông Đồ, ban hành khoảng năm 400, Công Nguyên: “Nữ tá viên, không chúc lành, cũng chẳng thực hiện bất cứ thứ gì thuộc chức năng linh mục hoặc phó tế, mà chỉ làm công việc đóng cửa/mở cửa, và giúp các linh mục trong việc rửa tội cho phụ nữ, vì tính cách đoan trang. Tiện lợi. Tế nhị.” (Hiến Chế Tông Đồ #VIII, câu 28)

Trường hợp rửa tội cho phụ nữ, vị linh mục xức dầu lên đầu hoặc lên trán người nữ nhận lãnh bí tích, trong khi đó, nữ tá viên vì lý do tinh tế thích hợp, thực hiện tiếp các động tác bôi/xức thêm sau.

Chức vụ, vai trò và ý nghĩa của công việc một nữ tá viên được sắp xếp tuỳ địa phương. Với Hội thánh Ai cập, Giáo hội Ma-Rô-Ni-Ta và Slava, không thấy có chức vụ này. Suốt năm thế kỷ đầu, Giáo Hội La Tinh cũng không thấy xuất hiện các nữ tá viên như thế.

Vai trò và chức vụ của nữ tá viên khác biệt nhau tuỳ thành phần của Hội Thánh. Khác biệt thấy rõ nhất là ở chỗ: không liên quan đến việc thi hành bí tích, vì thần học và khuôn phép của bí tích đều mang tính phổ cập, trong Hội thánh. Khắp thế giới.

Điều này, nói rõ trong Điều luật số 15 do Công Đồng Ca-Xê-Đô-Ni-a ban hành năm 451, như sau: “Phụ nữ nào dưới 40 tuổi không được tấn phong làm nữ tá viên. Và chức vụ này, chỉ được ấn định một cách kín đáo. Giả như, sau khi được tấn phong và thực hiện chức vụ này một thời gian, mà các chị lại coi thường ân sủng của Chúa, đi lập gia đình, thì những người như thế phải bị tuyệt thông, cùng chồng mình.”

Rõ ràng là, tuổi tác ấn định cho các chị, khác với nam nhân khi phong phó tế, cộng thêm đòi hỏi sống đời độc thân, nữ tá viên không thuộc các phẩm trật có chức thánh. Đúng hơn, phải nói: các chị thuộc nhóm phụ nữ trưởng thành có trọng trách giúp đỡ Hội thánh, bằng nhiều cách.

Con số nữ tá viên như thế, suy giảm từ từ với thời gian, ở Phương Đông cũng như Tây Phương. Để rồi, cuối cùng biến dạng hoàn toàn vào thế kỷ thứ XI. (Xem Lm Peter Joseph, Apologetics and Catholic Doctrine, Baronius Press 2009, tr. 594-95)

Xem như thế, có thể nói cách chính xác rằng: Hội thánh thời tiên khởi, không thấy có vai trò và chức vụ của nữ tá viên. Bảo rằng, các chị có quyền như những vị có chức thánh, là một nhận định không có nền tảng.

Chính vì xảy ra có ngộ nhận về vấn đề này, nên Đức Thánh Cha đã ra chỉ thị vào ngày 17/9/2001, trong đó nói: “Toà thánh được báo cáo cho biết: một số nước đang có chương trình thiết lập, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, tấn phong chức phó tế cho phụ nữ. Vì có nhiều người trông mong việc ấy xảy đến, lại không có nền tảng tín lý vững chắc, nên có thể kéo theo một số ngộ nhận, về mục vụ. Vì lẽ ấy, thẩm quyền Hội thánh không thấy có gì là khả thi trong việc tấn phong chức vụ đó, nên nay quyết định rằng: đây không phải là một việc hợp lý/hợp pháp để tháp đặt sáng kiến cho rằng, theo cách thức nào đó, sẽ có việc sửa soạn thuận cho ứng viên nữ được phép lĩnh nhận chức thánh, với tư cách phó tế.” (x. John Flader, The Catholic Weekly, 28/3/2010, tr.10)

Lại một giải đáp, rất chính mạch. Chẳng có gì, để bạn và tôi, ta bỏ giờ ra mà tranh với cãi. Hãy cứ lẳng lặng, mà yêu thương. Yêu, trong nghe/nhìn. Thương, rồi sẽ thấy. Yêu thương trong cuộc đời, ở bên ngoài, còn có những chuyện/những sự việc rất đáng nghe. Cũng nên đọc. Nghe và nhìn, cho đời mình thêm hưng phấn. Nhìn và nghe, rồi cứ mỉm cười. Một mình. Cười rồi mỉm, như chuyện bên lề bài chuyện phiếm. Rất như sau:

Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 18.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

MẸ ƠI ĐỪNG BỎ CON

Trần Hữu Thuần


Người đàn bà đẹp, trên dưới ba mươi, mỗi tay dắt một đứa con trai, đứa lớn bên phải, đứa nhỏ bên trái. Đứa con gái lớn hơn cả đi bên ngoài, nắm tay đứa con trai nhỏ nhất. Bốn người đi theo hành lang Cô nhi viện Hội an ra phía cổng, theo sau là một nữ tu mặc áo dòng trắng—Dòng Thánh Phaolô. Đến cửa ra vào, người đàn bà đứng lại, trò chuyện gì đó với người nữ tu. Người nữ tu gật đầu gật đầu, ý chừng chấp nhận. Người đàn bà cúi chào người nữ tu, quay mình lại với các đứa trẻ đi ra cổng. Người nữ tu đứng lại ở bậc thềm cao nhất nhìn họ bước ra, tay vẫy vẫy, miệng hơi mỉm cười.
Cổng mở ra. Người đàn bà dắt ba đứa trẻ bước ra lề đường cát, dưới một tàng cây. Đoạn lề đường này lúc đó vẫn còn là cát, chưa tráng ximăng. Người đàn bà ngồi xuống, ôm choàng lấy các đứa trẻ, rồi hôn hết đứa này đến đứa khác. Ba đứa trẻ ôm cứng lấy bà, nhất là bé gái lớn nhất trong bọn. Bà mặc quần tây đen thẳng nếp, áo màu dương bỏ trong quần, tay đeo vòng lóng lánh. Lấy từ túi áo ra một kính mát Rayban nữ gọng vàng, tròng xanh đậm, bà mang lên mắt, ý hẵn không cho ba đứa trẻ nhìn thấy đôi mắt bà. Cách nơi người đàn bà và ba đứa trẻ đang xoắn lấy nhau chừng năm bảy mét, một chiếc xe Jeep nhà binh đang đậu, máy nổ, sẵn sàng khởi hành.

Tôi rảo bước từ lớp đệ thất của trường trung tiểu học giáo xứ do các nữ tu Phaolô điều hành đi về nhà. Trường đã có các lớp tiểu học từ nhiều năm nay nhưng đến nay mới thử nghiệm lớp đệ thất đầu tiên. Trường học hai dãy đối diện nhau ở phía trước Nhà thờ Hội an, cách xa chừng mươi mét, song song với hai vách hông nhà thờ nhưng lùi ra đàng sau mỗi bên chừng một thước, không thẳng hàng. Lớp đệ thất duy nhất mới mẻ này chỉ chiếm một phòng đầu dãy bên trái. Nhà tôi chỉ cách nhà thờ chừng mươi thước. Nhà thờ và nhà tôi nằm trên hai con đường làm thành góc thước thợ, cả hai đều quay mặt ra Sân Vận động—một bãi cát bằng phẳng và rộng—ở hai cạnh của một góc vuông. Mỗi tuần, đầu tuần và cuối tuần, tôi dạy Quốc văn cho lớp này, vì trong tuần tôi còn dạy nhiều giờ ở trường khác không ở tại Hội an. Tôi không nhận tiền thù lao, nhưng các bà vẫn “theo lòng hảo tâm” mỗi tháng đưa nhiều ít, tùy khả năng tài chánh trong tháng.
Vừa đến đường cái, tôi giật mình vì có tiếng trẻ em tru tréo:
“Mẹ ơi! Đừng bỏ con! Mẹ ơi! Đừng bỏ con!”
Tôi hướng mặt về tiếng kêu la của ba đứa trẻ đang vây lấy người đàn bà—mẹ chúng. Đó là bốn mẹ con vừa từ Cô nhi viện bước ra. Tiếng kêu khóc của ba đứa trẻ thê thiết và tội nghiệp, cảm động hơn tiếng trẻ em khóc đưa tang mẹ. “Mẹ ơi! Đừng bỏ con!” Đứa bé gái kêu gào, thét lên hai tiếng “mẹ ơi” rồi cao giọng kéo dài tiếng “con.” Tiếng gào thét của em không chỉ là gào thét mà là tiếng van xin, nài nỉ, mong cho mẹ hiểu được lòng em. “Mẹ ơi! Mẹ bỏ chúng con, chúng con sống làm sao đây? Sao mẹ đành lòng như vậy?” Bé chưa đủ lời lẽ để nói lên nỗi lòng của bé mà tiếng gào thét chính là cách diễn tả. Hai em nó gào lên theo chị. Nhiều người qua đường dừng lại. Trên nét mặt tò mò của họ, lòng thương cảm hiện rõ trong các đôi mắt. Có mấy người phụ nữ vội đưa tay lau nước mắt. Tôi bước mấy bước lại gần, nhìn lên người nữ tu đang đứng trên bực thềm với ánh mắt dò hỏi, rồi nhìn lại mấy mẹ con. Người mẹ đeo kính mát nên tôi không biết bà có khóc hay có chút xúc động nào không. Ba đứa trẻ nằm lăn ra đất, hai tay níu lấy quần áo hoặc bất cứ chỗ nào níu được trên thân thể mẹ chúng. Người mẹ gỡ tay đứa này ra, tay đứa khác đã níu vội lấy bà, như các vòi bạch tuộc níu lấy con mồi.

Bỗng có tiếng còi xe thúc giục. Người mẹ gượng sức đứng dậy. Ba đứa con cũng bật dậy, ôm lấy hai chân mẹ chúng. Cả ba đứa đồng thanh lấy hết sức gào thét, “Mẹ ơi! Đừng bỏ con!” Chúng biết đã đến giờ phút quyết định. Người mẹ dợm bước đi, nhưng không thể thoát được các bàn tay níu kéo của mấy đứa bé. Có lẽ bà cũng không muốn mạnh tay với các con bà. Buộc lòng, bà lôi chúng xềnh xệch đến gần chiếc xe Jeep. Mỗi bước đi tới, bà trườn người lấy đà, cố vuột khỏi sáu bàn tay của ba đứa con đang níu lấy hai cổ chân của bà. Chỉ mươi bước chân nhưng mồ hôi bà đổ ra ướt áo, một phần cũng vì trời chiều nhưng nắng còn gắt. Ba đứa trẻ không ngớt kêu la, bị kéo căng ra như tử tội ngày xưa bị kéo theo chân ngựa đang phi nước đại. Từ trên xe, một người đàn ông bước xuống. Ông ta nắm lấy sáu cánh tay của ba đứa trẻ, giật mạnh ra khỏi ống quần mẹ chúng. Ba đứa thét lên kinh hoàng, tiếng thét của người đang rơi từ đỉnh núi xuống vực thẳm với thần chết đang chờ bên dưới. Bà mẹ thoát được, vội chạy lên xe. Người đàn ông giúi vội ba đứa trẻ chúi nhủi vào nhau rồi cũng chạy vụt lên xe, rồ máy, phóng xe nhanh về phía trước. Ba đứa trẻ ngã chúi vào nhau xuống cát. Cát lấm lem bám vào ba khuôn mặt đang đẫm nước mắt. Đã thoáng có tiếng nhiều người đàn ông qua đường chửi tục, “ĐM, con mụ đàn bà trắc nết, vô lương tâm!” Mấy người đàn bà nhìn nhau, “Trời, mấy đứa nhỏ dễ thương thế mà con mụ đành bỏ chúng!”

Ba đứa bé tuyệt vọng nằm lăn ra cát, miệng không ngừng rên rỉ, “Mẹ ơi! Đừng bỏ con!” Chúng không còn gào thét nữa vì biết mẹ chúng chẳng còn ở đó để nghe. Tiếng tức tưởi bây giờ nghe ằng ặc, như tiếng con heo bị chọc tiết mồm bị buộc chặt. Cả ba ôm lấy nhau. Chúng quấn lấy nhau thành một cục của đau khổ, của mất mát, của tuyệt vọng. Tôi cảm thấy một nổi đau tràn ngập trong lòng, chạy vội đến ôm lấy ba đứa bé. Bé gái lớn nhất ngước mắt nhìn tôi, nức lên “Thầy ơi!” rồi ôm chặt lấy tôi, khóc ngất. Hai em nó cũng “Thầy ơi! Thầy ơi!” rồi xô vào lòng tôi. Tôi ngồi xuống ôm chúng nó, vuốt ve chúng. Tôi vỗ về chúng nó, “Nín đi các em! Nín đi các em!” Thực sự, tôi chẳng biết phải làm gì lúc này.

Cả ba đứa, tôi đều quen mặt. Chúng mới vào cô nhi viện chừng tháng hơn tháng. Chúng cũng biết tôi, vì hàng tuần, dùng số tiền “thù lao” dạy học, tôi thường mua quà bánh vào cho các em trong cô nhi viện. Ba đứa chúng là ba trẻ ăn mặc tươm tất nhất trong số các trẻ khác trong nhà. Các nữ tu nói là quần áo do mẹ chúng mang đến. Tôi cũng “thiên vị” đặc biệt quan tâm đến chúng, quà bánh có phần riêng cho chúng. Ba chị em chắc cách nhau hai năm một. Bé gái—chị lớn—chừng 7 tuổi, mặt xinh xắn như thiên thần, da trắng, mắt hạt nhãn tròn xoe, tóc đen thả dài đến ngang vai. Hai đứa con trai chừng 5 và 3 tuổi khôi ngô, với hai đôi mắt đen sáng. Bé chị chăm sóc hai em nó, nhất là đứa nhỏ nhất, cho ăn, tắm rửa, thay quần áo, và nhất là không để đứa nào bắt nạt. Từ ban đầu khi mới nhìn thấy chúng trong cô nhi viện, tôi đã thấy có điều gì khác lạ. Chúng vào đây khi đã lớn, không phải trẻ bị bỏ rơi lúc mới sinh ra. Chúng có đến ba chị em. Dù vậy, tôi chưa có dịp “thắc mắc” về chúng, vì nghĩ không phải là chuyện để tò mò.
Ba đứa bé lịm dần trong tay tôi, như thói quen trẻ em ngủ say sau khi khóc ngất. Hai cô giúp các em trong nhà đã đứng cạnh tôi từ lúc nào. Mỗi cô bế một bé trai, tôi bé gái, đi vào. Chúng tôi lau mặt mũi tay chân cho các em, thay đổi quần áo, rồi đặt các em lên hai chiếc giường chồng nhau, chị ở trên, hai em ở dưới. Không đành lòng bỏ đi, tôi kéo một chiếc ghế nhỏ lại gần, ngồi nhìn các em ngủ. Nét đau đớn vẫn hiện rõ trên mặt các em. Thỉnh thoảng, có đứa rên rỉ, “Mẹ ơi!” trong giấc mơ chắc là hãi hùng. Cố kềm lắm tôi mới không trào nước mắt.

Trời đã tối. Đã đến giờ nhà dòng đóng cửa nên tôi đứng lên, dợm bước đi theo lối cửa sau mở ra sân Nhà Thờ mà tôi đã quen thuộc. Bỗng chị bề trên đến, mời tôi vào phòng khách. Đã có một li nước chanh trên bàn để sẵn chờ tôi. Chị bề trên cám ơn tôi rồi nói:
“Thầy biết đó. Thực sự lúc mới đưa các cháu vào, bà Thủy—mẹ các cháu—nói chỉ tạm gửi vài tuần. Nhưng lần này, bà đến gửi luôn cho chúng tôi, với một số tiền chi phí. Không biết từ giờ trở đi, bà còn đến thăm các cháu nữa không.”
Tôi bối rối hỏi:
“Xơ có biết tại sao không? Và tên các cháu là gì?”
“Chị tên Liên. Hai em là Quang và Bình. Còn câu chuyện thì như thế này….”

****************************
Bà Đại úy Tuấn lặng người cầm thư báo tin trên hai tay run rẩy, nước mắt ràn rụa. Ba đứa con bà nhìn mặt mẹ, không hiểu chuyện gì đang xẩy ra nhưng biết không phải là chuyện vui vì không thấy mẹ cười như mọi lần. Mẹ cười sao được vì chồng mẹ—ba các con—đã tử trận. Ngày mai, mẹ “đi nhận xác chồng.” Trời Pleiku mùa đông ẩm ướt và bết bát đất đỏ dẽo kẹo. Thủy—tên thực của bà Tuấn—bật khóc nghĩ đến tương lai của các con và của chính mình. Rồi mình sẽ làm gì để nuôi con đây? Thủy không ngờ hôm nay, chính Thủy lại là vai chính trong bài ca “Ngày mai đi nhận xác chồng.”

Thủy nguyên là một ca sĩ không chuyên tại Câu lạc bộ Sĩ quan Phượng hoàng tại Pleiku. Câu lạc bộ là nơi khiêu vũ và ca nhạc giải trí cho sĩ quan và cho cả không phải sĩ quan, đặc biệt vào các ngày cuồi tuần và các dịp lễ. Tiếng hát của Thủy trầm ấm, phảng phất giọng ca Mai Hương của thời đó. Tuy vậy, tiếng ca của cô không đi xa hơn Pleiku và vùng phụ cận. Ngược lại, nhan sắc cô đã làm say mê biết bao nhiêu chàng trai trẻ của thành phố Pleiku. Thủy đúng là biểu tượng của “Em Pleiku, má đỏ môi hồng.” Nhiều sĩ quan độc thân đã “trồng cây si” ở Phượng hoàng tháng này qua năm khác. Thế nhưng, chưa một ai lọt vào mắt xanh của bóng hồng. Không biết tại người đẹp đang mơ giấc mơ cao sang hoặc chưa có người hào hoa nào đánh trúng nhược điểm của con tim nàng. Cái e ấp của Thủy lại thêm yếu tố làm đắm say lòng người. Mỗi khi Thủy bước lên sân khấu, mấy anh chàng độc thân vỗ tay la hét, có lẽ mong người đẹp để mắt đến sự vổ võ của mình chăng?

Tuấn là sĩ quan, đóng quân tại Pleiku. Anh không phải là người thích nhảy nhót. Lần đó, anh bị thương phải băng bột một chân, đi đâu phải chống nạng. Nằm mãi bệnh viện quân y Pleiku cũng chán, anh bảo tài xế đưa anh đến câu lạc bộ, lần đầu tiên. Anh có một giọng ca thật hay, phảng phất giọng ca Quách Đàm và Sĩ Phú. Thấy anh vào, nhiều người yêu cầu anh hát. Anh lọc cọc chống nạng ra đứng giữa “piste.” Một người lên sân khấu đem micro xuống. Ban nhạc ngạc nhiên, chờ đợi. Thủy cũng ngạc nhiên, đứng nhìn.
“Thưa quí vị và các bạn, tôi xin hát bài Kỉ vật cho em, nhưng với điều kiện không ai nhảy khi tôi đang hát.”
Nhiều người vỗ tay hoan hô đồng ý. Tuấn đứng giữa “piste,” đầu đội lệch bêrê, tay cầm micro, tay kia giữ cho nạng kẹp vào nách, và cất tiếng, “Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại….” Tuấn không nhìn một ai khi đang hát, chỉ như đang nhìn sâu vào tâm hồn anh. Toàn thân anh như một pho tượng thương binh chống nạng với ngập tràn đau khổ của chiến tranh. Dẫu vậy, anh thoáng thấy có đôi mắt ai đó—đôi mắt con gái—đang xoáy vào người anh. Tiếng vỗ tay rào rào và la hét “Bis! Bis!” khi bài ca chấm dứt. Tuấn cám ơn và cất giọng hát tiếp, “Ngày mai, đi nhận xác chồng.” Ban nhạc nối tiếp không cần được báo trước, vì ai cũng biết đó là câu đầu tiên của bài “Tưởng như còn người yêu” mà Phạm Duy phổ theo bài thơ Thương ca 1 của Nguyễn Thị Ý.
Nốt ngân cuối cùng lịm vào phòng nhảy cùng với tiếng đàn tiếng trống của ban nhạc ngưng lại. Phỏng nhảy im phăng phắc. Không một ai vỗ tay, Không một ai thở mạnh, Không một tiếng cụng li. Các người trẻ tuổi nam nữ có mặt trong phòng hình như đang tự tra vấn về hậu quả của chiến tranh và số phận của chính mình. Âm hưởng hai bài ca xoáy vào tận tâm can người nghe. “Ngày mai đi nhận xác chồng, Say đi để thấy mình không là mình.” Thi sĩ Nguyễn Thị Ý đã chuyên chở tâm tình các góa phụ mất chồng trong cuộc chiến, và được Phạm Duy nâng cao bằng ý nhạc, buộc người trong cuộc phải tự hỏi, “Liệu bao giờ sẽ đến lượt mình?”
Tuấn hình như cũng bị ảnh hưởng bởi chính giọng ca của anh và của không khí phòng nhảy nên thất thểu chống nạng lọc cọc về bàn anh. Anh rót hết chai bia ra ly rồi nốc cạn. Người tài xế bảo anh, “Đại úy làm em thấy buồn quá!” Tuấn nhìn người lính nói, “Về mày!” rồi chệnh choạng bước ra cửa. Tuy vậy, Tuấn vẫn kịp nhận ra có một cái nhìn đang xoáy theo anh.

Tuấn gặp lại cái nhìn xoáy đó mấy tuần sau, khi Thủy đến giúp vui bệnh viện vào Lễ Giáng sinh. Người ta yêu cầu Tuấn “lên sân khấu” khi Thủy vừa chấm dứt bài ca của cô. Tuấn chống nạng lên sân khấu và mời Thủy song ca với anh bài “Bài thánh ca buồn,” rồi mời Thủy đến câu lạc bộ uống nước. Đám cưới hai người diễn ra mấy tháng sau đó, không dang dỡ như trong bài hát lần đầu tiên hai người song ca bên nhau. Hạnh phúc của hai người tưởng chừng sẽ bền chặt mãi mãi. Có ngờ đâu….

*****************************
Chôn cất Tuấn xong, Thủy quay trở lại Câu lạc bộ Phượng hoàng tiếp tục ca hát. Nhưng, giọng ca và nhan sắc của người đàn bà ba con không còn sức quyền rủ nữa. Thủy bỏ hát, sống nhờ vào tiền “tử tuất.” Nhưng, số tiền nhỏ nhoi đó không thể nuôi sống mẹ con Thủy suốt đời. Nỗi lo âu dằn vặt Thủy, không biết phải xoay xở thế nào để sống sót và nuôi con. Tình cờ, Thủy gặp Phong.

Phong trước đây đã đeo đuổi Thủy một thời gian dài, cho đến khi “bại trận” dưới tay Tuấn, người “bất chiến tự nhiên thành.” Phong cay cú lắm, nhưng tình hận vẫn không giúp Phong xóa được bóng dáng Thủy trong con tim anh. Anh đã xin đổi đi nơi khác. Tình cờ quay lại Pleiku vì công vụ, Phong lại tình cờ gặp Thủy trên đường phố. Thủy mời Phong về nhà, và ngọn lửa trong tim Phong cháy lên một lần nữa. Phong thu xếp đưa Thủy và các con Thủy về Đà nẵng, nơi đơn vị Phong đang trú đóng. Hai người chung sống, già nhân ngãi, non vợ chồng. Nhiều lần Thủy gợi ý lập giá thú, nhưng Phong chỉ ậm ờ. Rồi Thủy có thai với Phong, thúc giục Phong hợp thức đứa con. Phong trả lời:
“Thú thật, anh chần chừ không muốn làm hôn thú là vì anh không chịu đựng nổi sự có mặt của ba đứa con Tuấn trong cuộc đời anh!”
“Hả? Thế nghĩa là gì? Chúng có làm gì anh đâu?”
“Chúng là cụ thể sự thất bại của anh đối với em lúc trước.”
“Anh quá lắm. Đâu phải lỗi tại chúng hay tại em đâu.”
“Dù thế nào, anh vẫn không chịu nổi.”
“Thế … em phải làm gì?”
“Em làm thế nào để anh không còn gặp chúng nơi nào có mặt anh nữa.”
“Làm sao bây giờ? Chúng chẳng bên nội chẳng bên ngoại.”
“Hay em gửi chúng vào cô nhi viện đi, hàng tuần mình đến thăm chúng!”
Thủy thấy nhói trong tim:
“Anh nói gì? Gửi cô nhi viện?”

Thủy khóc ngất vụt chạy vào phòng. Ba đứa trẻ nghe mẹ khóc cũng ré lên chạy theo mẹ. Phong bực bội, ném vỏ chai bia 33 đang uống dỡ vào tường vỡ tan, rồi mở máy xe chạy mất.

Phong đi biệt một tuần lễ không về, cũng không báo cho Thủy biết đang ở đâu. Thủy mướn xíchlô đến đơn vị Phong. Lính gác điện vào điện ra cho biết Phong đang đi công tác xa. Thủy chán nản về nhà thì thấy Phong đang thu xếp vali quần áo. Ba đứa trẻ đứng lấm lét trong một góc phòng.
“Anh làm gì thế?”
“Em chọn lựa đi, một là anh, hai là chúng nó.”
“Anh cho em suy nghĩ thêm được không?”
“Không, với anh là dứt khoát. Anh không thể nhìn mãi sự thất bại của anh lù lù trước mắt! Hay em muốn anh nổi cơn bực tức đánh đập chúng nó? Anh không muốn, anh không thể làm thế với trẻ con, cho dù anh không thích chúng. Vì thế, anh chịu làm người thua cuộc lần nữa!”

Cuối cùng, Thủy đành nhượng bộ, định bụng chỉ tạm gửi các con vào cô nhi viện một vài tuần đôi ba tháng cho Phong vừa lòng, lập giá thú hợp thức đứa nhỏ trong bụng xong lại đưa các con về. Ngờ đâu, Phong thực sự cương quyết, nhất định li dị nếu còn gặp lại chúng.

***************************
Tôi mang nỗi buồn bực và bất lực về nhà. Mạ tôi nói,
“Tại con đi cả tuần, cuối tuần mới về nên không biết đó thôi. Mấy tuần trước khi bà ấy đến thăm xong ra về, ba đứa nó cũng gào thét kêu khóc như vậy.”
“Nhưng lần này, chắc bà ấy bỏ rơi chúng, không còn đến thăm nữa.”
Mạ tôi nhìn tôi, có vẻ ngạc nhiên. Tôi tóm tắt câu chuyện vừa nghe kể, và nói:
“Hay mình đem tụi nó về nuôi đi mạ. Con nghĩ gia đình mình nhận nuôi thì được chấp thuận ngay thôi.”
Mạ tôi nói,
“Mạ cũng xót xa trong lòng, nhưng không thể nhận chúng về nuôi được. Đã nhận thì phải nhận cả ba, mà nhà mình đông đảo, còn tới sáu đứa em con nữa.”


Mạ tôi nói đúng, em tôi còn nhỏ. Đứa gái út cũng chỉ cỡ tuổi bé Liên. Ba tôi đã mất nên trong gia đình bây giờ, tôi là “quyền huynh thế phụ.” Không thể nào nhận nuôi thêm cả ba đứa, không phải vì vấn đề tiền bạc, mà vì vấn đề chăm sóc. Tôi chỉ còn cách “ưu ái” chúng hàng tuần khi vào thăm cô nhi viện với chút ít quà bánh. Mẹ chúng cũng không thấy trở lại thăm chúng lần nào sau đó nữa.

Thời cuộc đưa đẩy tôi đi. Không lâu sau đó, một biến cố đã buộc tôi ra khỏi các trường tôi đang dạy. Tôi phải “chạy trốn” đến nơi khác. Gia đình tôi sau đó cũng không còn ở Hội an nữa. Câu chuyện ba chị em Liên đi vào quên lãng. Bôn ba vất vả trong cuộc sống, cũng có lúc tôi thoáng nhớ lại chuyện cũ để tự hỏi, “Các em bây giờ ra sao?” Một câu hỏi khác cũng không có câu trả lời, “Tại sao bà Thủy—một người mẹ biết thương con—lại có thể nhẫn tâm bỏ rơi con như thế?” Chắc còn những bí ẩn nào khác đàng sau mà người ngoại cuộc không thể biết đến.

Nếu còn trong cô nhi viện, các em cũng sẽ là các trẻ mồ côi như bao nhiêu các trẻ mồ côi khác. Các nữ tu chắc chẳng có lí do nào để ưu đãi các em. Rồi cũng chẳng mấy ai nhớ đến gốc gác của các em để thở than một lời “tội nghiệp.” Các nữ tu cũ đổi đi, các nữ tu mới đến thay chỗ. Người mới chẳng có kỉ niệm hoặc ấn tượng nào về chuyện cũ đã xẩy ra, cho dù có nghe kể lại. Thế nhưng, nếu Chúa để các em còn sống, các em chắc sẽ có một tương lai bảo đảm dưới sự chăm sóc của các xơ. Lúc còn ở đó, tôi đã thấy một vài cô lớn lên từ cô nhi viện, được học hành đến nơi đến chốn tùy sức, rồi quay lại giúp cho lớp đàn em, hoặc dạy dỗ, hoặc lo chuyện này chuyện khác. Chị bề trên còn cho tôi biết—có lẽ muốn tôi ngấm nghé một trong các cô đó chăng?—nếu các cô này lập gia đình, họ cũng sẽ có “của hồi môn” như bao nhiêu người khác. Các bà không nói ra, nhưng tôi nghĩ “của hồi môn” đó chính là công lao của các cô đã bỏ ra giúp cô nhi viện.
Giờ đây các em ra sao? Đã gần nửa thế kỉ trôi qua kể từ ngày đó. Các em chính là hậu quả cụ thể của cuộc chiến, của con người trong cuộc chiến. Các em nào có tội tình gì? Dù thời gian biền biệt, tiềm thức tôi vẫn không quên được nỗi đau đớn của tiếng kêu khóc “Mẹ ơi! Đừng bỏ con!” mà các em tru tréo ngày nào.

Chẳng biết giờ đây các em ra sao và đang ở nơi nào?

Trần Hữu Thuần



ĐÊM TỊCH LẶNG

An Thiện Minh

Đêm nay, cảnh vật như mang một nỗi niềm kỳ bí khó tả. Cơn gió đêm lạnh buốt cứ giật từng hồi, rít lên âm thanh thoi thóp mùi tử khí. Ánh trăng mang khuôn mặt muộn phiền chiếu những tia sáng yếu ớt trên chân dung nhạt nhoà của vườn cây đang cúi mình thống hối. Bầu không gian ảm đạm mang dấu ấn thần chết như quanh quất đâu đây. Chỉ có những đám mây đen đang hả hê nụ cười và vần vũ kéo về che lấp cả đất trời. Đêm đã tối, vườn cây còn tối hơn.

Trong chập choạng bóng đêm ấy, người ta thấy một Chàng thanh niên đang co ro trong nỗi cô độc. Nỗi cô độc của một trái tim đang quằn mình gánh lấy sự bất công và phũ phàng của cuộc thế. Nỗi cô độc của một tâm hồn không nhận được sự cảm thông từ chính những người bạn tri kỷ đang say ngủ mê mệt. Nỗi cô độc của một hành trình thực hiện trọng trách vĩ đại chỉ với dấu chân chính mình.

Tiếng gào của cơn gió cũng là tiếng thét của trái tim độc thoại. Không nỗi đau nào hơn nỗi đau xa cách Tình Yêu. Tội lỗi và sự dữ là điều khủng khiếp nhất vì nó chà đạp và loại bỏ Tình Yêu bằng trái tim vô cảm. Tình Yêu là cuộc sống của Chàng. Thế mà đêm nay, đêm của bóng tối sự dữ xâu xé. Chàng phải hiến nộp trái tim mình để mở lại con đường Tình Yêu đã bị dấu ấn sự dữ làm hoen mờ. Chàng bị đẩy vào hàng ngũ của những bước chân tội lỗi mặc dù chàng vô tội, để máu của Chàng có thể trả lại cho Tình Yêu một chân dung đích thật.

Sự dữ bổ vây lấy Chàng, tội lỗi quất vào Chàng những lằn roi oan nghiệt biến Chàng trở thành con mồi bị thương tích vì sự thật của Tình Yêu. Chàng như bất xứng với Tình Yêu vì những kinh tởm và biến dạng mang trên người.

Sự bất xứng với Tình Yêu là điều khiến Chàng phải quằn quại trong tột cùng thống khổ. Trái tim Chàng như bị phân ra từng mảnh. Chàng đang bị chia cắt khỏi Nguồn Sống và Chàng đang hấp hối.

Chàng và Tình Yêu là Một. Không gì có thể tách Chàng với Tình Yêu. Nhưng giờ đây, Chàng phải tự tình phó nộp mình cho sự dữ và mang lấy ách tội khiên để trở nên như bất xứng. Khó có thể nào diễn tả cơn thống khổ vì Tình Yêu Chàng đang trải qua. Chàng có thể không thực hiện và không có gì để phàn nàn. Nhưng Tình Yêu đã lên tiếng, Tình Yêu đưa bước chân Chàng đi vào cõi chết một lần để đăng quang cho Sự Sống Vĩnh Cữu. Chàng dùng trái tim mình để chỉ ra sự kinh tởm của sự dữ và tội lỗi; và cũng từ trái tim ấy, một con đường ánh sáng được mở ra cho những tâm hồn biết tìm về Tình Yêu Thiện Mỹ.

Những giọt máu trong trái tim Chàng bắt đầu rơi ra thấm đẫm cả bóng đêm. Cuộc hiến tế đã thực hiện ngay chính những giờ phút này không đợi đến cuộc sát tế thực thể của thân xác.

Chàng thinh lặng để trái tim chảy đến những giọt cạn kiệt vì Tình Yêu.Và khi giọt máu cuối cùng của Tình Yêu rơi xuống, một ánh sáng bình an lan toả khắp khu vườn; những đám mây đen vội vã tháo chạy, sự dữ trốn mình vào bóng đêm cúi mặt, gió mang đến hơi thở mới của sinh khí và ánh trăng bao dung toả chiếu trên cung đời cuộc thế.

Đêm tịch lặng - Sự sống nảy mầm ngay trên sự chết, yêu thương lấp lánh ngay trong hận thù. Tình Yêu đã hiện hữu. Bóng đêm trở thành ánh sáng trên con đường Sự Thật.
Mùa Chay Thánh
01/03/2010
An Thiện Minh



VƯỜN HOA THIÊN QUỐC

ĐỖ THẢO ANH


Không có một vị thánh nào giống một vị thánh nào. Mỗi vị thánh có một nét vẻ riêng : Từ Thánh Phanxicô khó khăn vui tươi, khắc khổ, Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đơn sơ tế nhị, Thánh Matta sôi nổi nhiệt thành, Maria Mađalêna trầm mặc lặng lẽ. Thánh Louis Gonzaga vinh hiển bởi đức khiết tịnh nhưng Thánh Mônica triều thiên chói ngời trong nhân đức của một người mẹ …

Thiên Chúa đã muốn như thế để cho vườn hoa thiên quốc của Ngài nên rực rỡ bởi muôn vàn vẻ đẹp khác nhau, làm rạng rỡ vinh quang Ngài bởi muôn vàn âm điệu khác nhau.

Mỗi người cũng là một đóa hoa riêng biệt, một tác phẩm với những diệu vẻ hoàn toàn riêng biệt, một tác phẩm độc nhất vô nhị của Chúa . Mỗi người có một vị thế ưu biệt trong cung lòng Thiên Chúa. Thiên Chúa trang điểm cho mỗi người bằng những hồng ân khác nhau, tùy theo ơn gọi và sứ mạng riêng , cũng như Ngài chăm sóc các loài hoa bằng những phẩm chất khác nhau, tùy theo bản tính riêng của từng loại. Hoa hồng cảm tạ Chúa vì vẻ đẹp lộng lẫy Chúa ban cho mình nhưng cũng chúc khen Chúa vì tuy rằng được nuôi dưỡng bằng những phẩm chất và môi trường hoàn toàn khác biệt, đóa phong lan cũng là một loài hoa tuyệt vời hương sắc …

Các thánh là hình ảnh của Giáo hội được hình thành bởi nhiều phần thân thể khác nhau, đón nhận những ơn gọi với đặc sủng khác nhau, để xây dựng và bổ túc cho nhau. Như vườn hoa thiên quốc rực rỡ bởi muôn ngàn hương sắc khác nhau, nhưng từng mỗi đóa hoa đều làm cho chủ vườn là Thiên Chúa phải ngạc nhiên ngây ngất, Ngài không thể so sánh đóa hoa này với đóa hoa kia được. Bởi vì từng mỗi đóa hoa, dù bé nhỏ đơn sơ nhất, nếu quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa , cũng được Ngài yêu thương để mặc lấy cho một vẻ đẹp tuyệt đối, đó là sự trọn lành. Ngài nói với tất cả “ Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành ” (Mt 5,48).

Đỗ Thảo Anh


LÁ THƯ GỞI VỀ TRỜI

Vũ Thủy


Cha vô vàn kính yêu,
Cha ạ, đã nhiều phen con sống như một đứa con hoang đàng, bất kể đến cha mình tựa cửa trông mong. Lúc ấy, con trẻ và khỏe, mọi sự đến với con đều thành công dễ dàng. Lúc ấy, con cũng gọi là có chút thành đạt, Cha nhỉ? Lúc ấy, con rất tự tin ở mình, con ăn to nói lớn Cha nhỉ? Bây giờ ngồi nhớ lại con thấy mình buồn cười và thậm chí lố bịch vì cứ tưởng ta đây là ngon lắm. Vậy mà Cha chẳng hề trách phạt gì con cả! Hồi đó, mỗi lần con làm điều xấu con lại lấm lét sợ Cha phạt. Nhưng khi làm điều tốt thì chỉ để được thưởng công và cũng còn là vì sợ Cha sẽ phạt mình không làm những điều Cha mong muốn. con không hề nghĩ đến tâm tư, tình cảm của Cha. Đối với con, Cha là một người Cha nghiêm khắc và đáng sợ, nghĩ đến Cha con chẳng thoải mái chút nào! Con nhớ lại lúc con học giáo lý vỡ lòng, ma-soeur nói rằng: “Vô nhà Cha mà không ngồi khoanh tay nghiêm trang thì bị ma quỷ nó thọc lét, hoặc là ngủ gật thì bị con quỷ nó đánh đu trên mi mắt. . . Con sợ lắm!”

Ngày tháng trôi qua, nhiều sự việc xảy ra con đã chẳng tâm sự với Cha, cứ thế mà Cha con ta dần xa cách nhau. con trở thành đứa con hoang đàng thoát ra khỏi cái nhìn của Cha. Con đã lao vào cuộc sống bon chen lờ đi cái sợ sẽ bị Cha trừng phạt vì con cũng chẳng thấy Cha phạt con bao giờ. Những phù phiếm ở đời khiến tâm hồn con chai sạn dần. Mọi thứ với con đều O.K.! Cho đến một hôm, Bác sĩ bảo con nhập viện gấp vì mắt đã bị xuất huyết nặng rồi! con bình tĩnh làm giấy tờ nhập viện và còn cảm thấy hãnh diện vì người ta cứ ngẩn ra nhìn một bệnh nhân ăn mặc thật “mốt”. . . Ngày hôm ấy con đã được mười bác sĩ khám mắt và câu trả lời duy nhất là: “Y khoa không thể làm gì cho cô được nữa!” Con thầm bảo lòng mình để đêm xuống rồi mình sẽ khóc. Nhưng đêm xuống con cũng chỉ khóc có một ít nước mắt rồi lại bảo để đến về nhà mình sẽ khóc vì ở bệnh viện khóc đâu có tiện.

Ngày hôm sau con lại nghe hàng loạt bác sĩ trả lời bằng câu nói y như hôm trước. con trở về phòng bệnh, căn phòng vắng vẻ vì bệnh nhân đã ra ngoài hết. Con thầm nghĩ tại sao mình không cầu xin Đức Mẹ? Và từ đó mỗi lần nghĩ đến cảnh bế tắc của mình, con lại đọc kinh Mân côi. Kinh Mân Côi là những liều thuốc thần kỳ cho con vào giai đoạn ấy, sau mỗi lần thủ thỉ với Mẹ con luôn cảm thấy bình an. . .

Sự bình an khiến con có thời gian để nghe những đoạn Kinh thánh, và có tâm trí để nghiền ngẫm về Thánh ý của Cha. Chính Mẹ Maria đã dắt con lại gần với Cha, con bước đi trong bóng tối mà thấy trời đầy nắng ấm. Ban đêm, con cũng không sợ mặt trời lặn và tin rằng có Cha ở kề bên. Khi mọi người trong gia đình con không còn hy vọng mắt con sẽ được chữa khỏi lại là lúc con nhận ra tấm lòng bao la của Cha. Đấy là lúc con thấy mình gần gũi Cha hơn bao giờ hết. Mỗi lần con làm gì sai trái, con buồn rầu sợ hãi tội mình thì con cảm thấy ánh mắt Giê-su rất khoan dung đang nhìn vào mình. Mỗi lần con cáu kỉnh vì ai đó có chuyện gì lẩm cẩm, con lại cảm thấy Giê-su đang mỉm cười với mình, cái mỉm cười đầy hài hước để con dần thoát khỏi cơn bực bội.

Có những ngày thời tiết ảm đạm, lòng con cũng ảm đạm vì những cơn đau không thuốc chữa, con thấy Giê-su đứng đợi sẵn ở cửa sổ phòng mình. Rồi Giê-su nhẹ nhàng lại gần lắng nghe con than thở, kêu xin nhưng Giê-su im lặng cho con xem hai chân hai tay bị đóng đinh. Khi tiếp một cú điện thoại vô duyên, với sự bực bội con thấy Giê-su lắc đầu tỏ ý không vui. Khi xét đoán anh em, con thấy ánh mắt Giê-su nghiêm khắc lạnh lùng. Khi con làm được một việc giúp cho ai đó, Giê-su nhìn con đầy vẻ khích lệ. Khi nhận ra mình nhấc ống nghe điện thoại lên, thay vì nói “A-lô”, con lại nói “A-men”, con nhận ra mức độ trầm trọng của chứng rối loạn thần kinh: “cơn thiếu vắng ý thức”. Nhưng lúc ấy phản xạ tự nhiên của con là bật cười với chính mình, lúc ấy con không hề lo lắng mà thấy Giê-su cũng cười với mình. Cha có bảo con chuẩn bị mua hòm không mà lại xui con nói Amen?. Cha ạ, con đã sắp sẵn hành trang rồi, lúc nào Cha gọi thì con về với Cha đấy. Nhưng mà con đang học dở dang the course “ECONOMICS”, thầy giáo phụ trách môn này của Hadley School rất tốt với con, con sợ rằng nếu Cha đón con đi vội quá sẽ không kịp e-mail cho Vileen. Rồi Vileen có chờ e-mail của con không nữa!

Nhưng Cha ạ, sáng nay khi xét mình để xưng tội, con nhận ra mình đã phạm lỗi với Cha nhiều quá! Con lại ngựa quen đường cũ rồi hay sao ấy Cha ạ! Con tự cho mình là người con hiếu thảo, tự cho mình có quyền được hưởng đặc ân hơn những đứa con hoang đàng khác của Cha. Cha ơi, con thấy Cha thật là kiên nhẫn và bao dung hết dõi mắt theo đứa con này lại chờ đợi đứa con khác trở về. Vậy mà con còn không biết gánh đỡ cho Cha gánh nặng ấy, lại còn nhởn nhơ hưởng thụ những may mắn mà Cha dành cho con. Cha ơi, con sẽ cố gắng làm vui lòng Cha bằng những việc làm bé nhỏ nhất của con. Vì con chỉ có thể cho người bạn của mình một lời an ủi, con chỉ có thể cho bạn mình một lời cảm thông. Con chỉ có thể tặng người qua đường nào đó một cái mỉm cười, và giúp người ăn xin trước cửa nhà con một ly nước lã thôi Cha ạ! Khuya quá rồi con dừng bút đây. . .

Viết cho Cha từ căn phòng trọ ấm áp của con nơi trần thế,

Chủ Nhật IV mùa chay 2010
Vũ Thủy


TÂM SỰ VỚI CHÚA

Sông Lam

5/4/2009: Chúa nhật lễ lá.


Hôm nay Chúa vào thành Giêrusalem, ăn bữa tiệc cuối cùng với các thánh tôngđồ. Rồi sau đó Chúa vào vườn Cây Dầu cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha. Chúa ơi! Chúa cho con vào vườn Cây Dầu với Chúa nhé! Nhưng có lẽ con cũng bỏ Chúa như các tông đồ thôi. Vì con cũng yếu đuối như cac` tông đồ phải không. Chúa ơi !Xin hãy tha thứ cho con , tha thứ cho nhân loại tội lỗi đã để Chúa một mình trong nỗi cô đơn tột cùng. Tình yêu là gì Chúa nhỉ? Để Trái Tim Chúa luôn phải tan nát vì sự bội phản của loài người. Chúa ơi sao Chúa thương con nhiều thế!

9/4/2009: Thứ năm tuần thánh.

Hôm nay lễ rửa chân.
Trong suốt buổi lễ con cứ suy nghĩ miên man. Chúa ơi! Sao Chúa lại rửa chân cho các tông đồ. Phải chăng đó là lời yêu thương tột cùng trong đáy sâu con tim “Lấy nước rửa chân chân con lấm bụi đời . Từ thuở làm người chân theo đường u mê.” Chúa đã rửa đôi chân lấm bụi đời cho con. Đôi chân đã bao lần bỏ Chúa ra đi, vậy mà Chúa vẫn chờ đợi con trở về để rửa chân cho con. Chúa ơi tình Chúa mênh mông quá, cao vời quá, sâu thẳm quá! Con chỉ biết khóc thôi…

10/4/2009: Thứ sáu tuần thánh.
Chiều đi chầu Thánh Thể. Nhà thờ chỉ có hai ngưới. Một người phụ nữ và một người đàn ông trung niên. Giờ này mà có người đàn ông vào chầu Chúa kể cũng lạ nhỉ? Không biết họ nói gì với Chúa mà họ đọc rất nhiều , con cũng có mang theo chuỗi nhưng không lần hạt được. Con chỉ muốn quỳ bên Chúa và im lặng cùng Chúa thôi…Chúa ơi! Giờ này Chúa là người cô đơn nhất trong những người cô đơn. Chúa đang bị nhân loại bội phản,và Chùa Cha bỏ rơi trên thánh giá. Tình yêu là gì Chúa nhỉ ? Sao Chúa lại chết cho con quá đau đớn như vậy.Tình yêu là sự huyền nhiêm của Thiên Chúa mà con người không suy thấu được. “Máu lêng láng trên đồi CanVê ôi tình yêu vĩ đại.’

11/42009: Thứ bảy tuần thánh.
Chiều đi hôn chânChúa. Canh lúc nha thờ không có ai để con được khóc bên Chúa. Nhìn những dấu đinh trên tay và chân Chúa con đã khóc thật nhiều. Chúa ơi! Chúa đau lắm phải không?

Không biết điều đó có ý nghĩa gì. Mỗi lần hôn chân Chúa mọi người đều bỏ một ít tiền vào giỏ,nhưng con không có tiền lẻ, chỉ có năm chục ngàn thôi… Đó là số tiền còn lại trong tháng. Làm sao bây giờ. Đang lúc bối rối… Con chợt nhớ đến bà Madalêna đã đổ một bình dầu quí để lau chân Chúa. Chỉ với năm chục ngàn thôi…Vậy mà,trong phút chốc con đã tính toán. Mặc dầu bỏ vào rồi nhưng lòng con cứ làm sao ấy…Chúa ơi, con đã làm cho Chúa buồn phải không? Con đã làm cho Chúa đau đớn thêm một lần nữa phải không? Xin Chúa tha thứ cho con, tha thứ nhiều cho con . Chúa ơi!

Sông Lam


NHẬT KÝ VIẾT CHO EM

Anna HoàngTrinh


[color=violet][b][i]Em!
Tôi muốn nói rằng cám ơn em thật nhiều vì lời chào sáng tạo “Chào Chúa trong anh nhé!”, mà em dành cho tôi mỗi khi có dịp. Nói thật, lúc đầu tôi có hơi lấy làm ngạc nhiên vì kiểu chào đó nhưng rồi cũng thành quen. Và khi quen với lời “Chào Chúa trong anh nhé!” thì tôi lại muốn chia sẻ cùng em đôi điều ngẫm nghĩ được trong một buổi chiều vắng gió.

Có lần tôi hỏi người bạn của tôi về lời chào:“chào Chúa trong anh nhé!” thì bạn tôi bảo rằng nghe lời chào ấy có vẻ hơi “màu”. Tôi thì lại nghĩ có cả chút mỉa mai trong đó nữa nhưng đó là… lần đầu tiên tôi mới nghe thế nên nói cho đúng, thì đó lại là lời chào đầy thân thiện của những người mang trong mình quả tim nhỏ thắm đỏ yêu thương. Rồi giật mình tôi cũng tự hỏi con tim nhỏ bé của mình màu gì? Em có vậy chăng ?

“Chào Chúa trong anh nhé!” đó không hẳn chỉ là lời chào xã giao nhưng là sự quan tâm thương yêu mà tôi muốn dành cho người mà tôi quý mến, người thân cận tôi. Nhưng hình như chưa có khi nào tôi nghĩ đến việc dành lời chào đó cho người gây khó chịu cho tôi hay những người mà tôi chưa thực lòng yêu thương hết tình thì phải. Hẳn là rất khó em nhỉ, với tôi cũng vậy. Nhưng đó là tại chúng ta chưa chào hết câu, còn nếu chào hết câu thì sao em nhỉ? Tôi sẽ thử.

“Chào Chúa trong anh nhé!”lời chào yêu thương ấy nhắc tôi nhớ rằng trong tôi đâu chỉ có cái bản ngã riêng của tôi mà cón có một Đấng quyến năng đang hiện diện trong chính con người tôi. Và tôi tự hỏi cái bản ngã của mình phải chăng đã chiếm hết vị trí của Người? Tôi phải làm gì để Người có thể lớn lên trong tôi? Em nghĩ gì lúc này?

“Chào Chúa trong em nhé!” khi cất lên lời chào ấy với đức tin tôi hiểu rằng Ngôi Hai, Con Thiên Chúa đã chẳng nề hà gì chỉ để được ở trong tôi và để tôi được ở trong Người. Thế nhưng đức tin của tôi có đủ lớn để cũng có thể nhận ra Người đang hiện diện nơi người anh em bên cạnh tôi và trong nhiều người khác nữa? Không dễ phải không em ?

Tôi không biết khi dành cho tôi lời chào thân thiện đó trong em cảm thấy gì nhưng riêng tôi khi cất lời “chào Chúa trong em nhé!” trái tim nhỏ bé của tôi đã
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 18.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NỘI ƠI!

Sông La


Nội ơi , nội ., tiếng của bé gái thảng thốt cất lên gọi tìm bà, bổng òa khóc khi chưa nghe tiếng nội lên tiếng.

Bà như chợt nghe, vội vàng từ phòng ngoài đi vào. Nội đây , nội đây , cháu bà ngoan nào. Đừng khóc nữa nhé, nội pha sữa cho cục cưng của nội uống nhé.

Vừa đi pha sữa vừa trầm tư suy nghĩ, sao hôm nay cháu bà thức giấc sớm quá, chuỗi hạt Thương Xót Chúa bà lần chưa xong ,con bé đã thức giấc rồi, chia trí quá đi thôi.

Nhưng rồi lại tự an ủi mình, bà chợt nghĩ: Chúa tha thứ cho bà , bà đâu có sao nhãng. Việc đọc kinh cầu nguyện đâu, bà chia trí bỏ giở giờ kinh nguyện âu cũng là vì bà phải chu toàn bổn phận chăm sóc cháu nhỏ cho con trai và con dâu đi làm , bởi thu nhập quá hạn hẹp, tiền đâu mà gởi cháu bà vào nhà trẻ , hơn nữa có cháu ở nhà bà cảm thấy đỡ trống vắng hơn. Bà tin Chúa thấu rõ mà tha thứ cho sự chia trí này của bà.

Quả thật bà đã tập cho mình một thói quen tốt, cứ ba giờ chiều mọi việc cần làm bà đã cố gắng sắp xếp thu vén xong, lại lặng lẽ, âm thầm trò chuyện tâm sự cùng Chúa. Hôm nay cũng vậy, nhưng giờ kinh đã xong đâu, chợt mỉm cười, lắc lắc bình sữa trong tay bà chợt thốt lên thành lời: Chúa chúc lành cho của ăn của cháu con.

Ẵm cháu trong tay, bà đưa bình sữa vào miệng bé, Bé gái uống lấy từng giọt sữa ngọt ngào trong lời ru của bà, mắt ngước lên nhìn nội, nhoẻn miệng cười , nét mặt rạng ngời.

Ngắm nhìn cháu, bà thầm tạ ơn Chúa đã nhận lời nguyện cầu của bà, đứa cháu gái là nguyện ước tha thiết của bà. Bà đón nhận cháu vì bà luôn nghĩ rằng đây chinh là món quà tuyệt vời Chúa ban cho bà cho gia đình bà.

Đứa cháu thiu thiu ngủ , bà lại miên man nghĩ: vợ chồng bà cũng chăm chỉ làm ăn ,cần kiệm liêm chinh, không hoang phí một đồng, thế mà sao cái nghèo lại cứ bám víu, đeo đẳng bà đến thế. Suy đi nghĩ lại trong long, quả thật nhờ ơn Chúa thương xót mà bà và gia đình bà đã vượt qua sự khốn khó trong ơn Chúa.

Sáu lần sanh, sáu cậu con trai, nay đã khôn lớn, học hành tạm ổn, hàng xóm luôn khen ngợi, con trai nhà bà sao ngoan thế, đối với bà tất cả đều nhờ bởi ơn Chúa thương xót bà. Kể cả việc bà theo đạo công giáo cũng vậy.

• Ơn Chúa cứ như mưa móc tưới gội lên gia đình bà.

Ngày cậu con trai lớn đưa người bạn gái của nó nay là con dâu bà lại là người không có đạo về trình diện, hơn thế nữa gia đình họ lại là người hoa. Bà phải tính sao đây phó thác cậy trông trong tay Chúa quan phòng. Lời nguyện cầu liên lỷ của bà được Chúa nhậm lời.

Đám cưới nhà đạo được chu toàn, con dâu cũng học giáo lý được nhận lãnh đầy đủ các bí tích. Giờ đây ngồi ngẫm lại đám cưới của đứa con lớn bà như thấy Chúa và mẹ Ma ria đã hiện diên ban phép lạ cho gia đình bà như tiệc cưới Ca-Na vậy. Bà có là gì và cũng chưa làm được gì cho Chúa cả, có nhiều khi cuộc sống, chắc chắn chính tư tưởng, lời nói việc làm của bà đã làm cho Chúa đau xót tận tâm can, vậy mà Chúa vẫn cứ thương bà, thương cái gia đình bé nhỏ, ám áp của bà.

Và đây đứa cháu nội của bà, nó được tượng hình và sinh ra trong lời thì thầm nguyện cầu của bà. Đối với bà tất cả đều bởi ơn Chúa.

Bé gái, cháu nội của bà lớn dần theo năm tháng, có lẽ trong giấc ngủ của cháu vẫn mang theo cả lời nguyện cầu của nội. Rồi cứ thế bên nội, bên những giờ nguyện cầu của nội bé như chợt nhận ra một điều gì thiêng liêng trong những giờ cầu nguyện của nội. Bé gái, cháu nội của bà tò mò muốn biết, nhưng sao thấy nội nghiêm trang quá. Muốn hỏi , không dám hỏi , lặng lẽ bé cũng ngồi bên nội, ngước mắt nhìn ảnh tượng.

Rồi một ngày kia, cháu bà chẳng chịu ngồi yên bên cạnh bà nữa , nó sà vào lòng của nội mà thủ thỉ, mà nũng nịu: “Nội, nội ơi , ngày nào nội cũng ngồi như vậy để làm gì”. “Thôi nào, để cho nội đọc kinh, cầu nguyện với Chúa nhé , đừng làm nội chia trí, Chúa buồn, giận nội cháu mình bây giờ” , “Ứ chịu đâu, nội nói cho con nghe đi , con muốn biết mà” . Mỉm cười , xoa đầu cháu, mắng yêu : “Bố mẹ mày con ạ , quấy rầy nội không hà”. “ Nội ơi ,con đâu có quấy rầy nội đâu , con chỉ muốn hỏi nội thôi mà” .Bà chợt nghĩ, tạ ơn Chúa , đây là dịp để dần dần bà sẽ được hướng dẫn cho cháu bà biết sống hiệp thông với chúa trong đời sống cầu nguyện.

Ôm cháu vào lòng, bà thì thầm, tay chỉ lên bàn thờ Chúa “Đây là Chúa Giêsu , Chúa rất thương nội thương cháu, thương hết cả nhà ta và tất cả mọi ngưởi , thế nhưng nhiều khi nội, mọi người, cháu, không ngoan nên Chúa buồn lắm , bởi vậy nội ngồi đây đọc kinh, cầu nguyên cho ông nội, cho nội, cho cháu, cho bố mẹ cháu, cho các chú và cho tất cả mọi người, để Chúa thương tha thứ lỗi lầm, Chúa cho mọi người bình an, cho cháu hay ăn ,chóng lớn ngoan ngoãn vâng lời người lớn, học giỏi, sống tốt và cũng là để tạ ơn Chúa thương ban điều tốt lành cho mọi người, cũng giống như ông nội dắt con đi mua quà rồi con cảm ơn ông nội đó “Nội đọc kinh ,cầu nguyện là để gia đình ta yêu thương nhiều hơn con ạ, để ai cũng cố gắng sống tốt đẹp hơn . Cháu như chăm chú lắng nghe lời bà, chợt hỏi : “Vậy nội ơi, cháu có đọc kinh, cầu nguyện với Chúa như nội được không” Không ngần ngừ, bà vội trả lời : “ Được chứ cháu , Chúa mong lắm, mong con và mọi người luôn nhận ra Chúa và biết cầu nguyện với Chúa vì Chúa yêu hết thảy mọi người và Chúa muốn mọi người yêu thương nhau , nếu không có Chúa thì sẽ không có gì hết con ạ , cũng sẽ chẳng có con, cũng sẽ chẳng có nội, “Cháu bà cúi đầu gật gật như thể hiểu hết lời bà nói và ngước mắt lên hỏi bà:” vậy nội chỉ cho cháu đọc kinh,cầu nguyện với nhé”. Và cứ thế kể từ hôm đó trở đi, tối nào cũng vậy, cháu bà cứ lon ton gọi từng người một, từ ông nội, bà nội cho đến bố mẹ bé và các chú quây quần trong giờ kinh tối của gia đình lòng bà như mở cờ trong bụng.

Riêng cháu gái của bà, ngày nào cũng vậy, lặng lẽ ngồi bên nội, chăm chú nhìn lên bàn thờ, thật trang nghiêm chăm chú trong thinh lặng, họ thầm tạ ơn Thiên Chúa, với những ước muốn giản dị nhưng đầy ắp những tựa nương, hy vọng, cậy trông, tin yêu, tín thác và trong ơn Chúa của nội và của cháu hạnh phúc, niềm vui, yêu thương đã ươm mầm xanh tươi ngọt ngào trong gia đinh ba thế hệ này. Dẫu cho có nghèo, dẫu cho ngày dài vất vả, nhưng gia đình của nội và cháu như múc kín ân sủng Chúa, mãi ấm áp vô cùng.


Sông La


KỶ NIỆM NGÀY CƯỚI

K.H


Tối nay, tình cờ nhìn tờ lịch treo trên tường ngày mai 30 tháng 3. A, mai là kỷ niệm ngày cưới rồi , từ đầu tháng 3 đã nhớ, nhưng lu bu công việc thế mà nó đến lúc nào không hay . 37 năm, một chặng đường khá dài mà không mấy người đạt được trong đời sống hôn nhân .

Tôi cũng thầm hãnh diện cho tôi, vững vàng đi một bước thật dài .

Nếu ai đó nói rằng cuộc sống Hôn Nhân là cuộc sống tuyệt vời , thì tôi khẳng định là “Họ đang nói dối” .

Sau nhiều năm tháng trong đời sống Hôn Nhân tôi mới thấy rõ ràng, người ta tổ chức ăn mừng ngày cưới là rất đúng .

Ăn mừng ngày cưới như ăn mừng ngày đầu năm (Ngày Tết) .

Một năm qua đi bao nhiêu chuyện đã xảy ra ? Những rối rắm, những đau buồn, những lo toan , những thất bại , những thành công và những hoan hỷ ?
Tất cả những điều ấy lần lượt diễn ra trong suốt 365 ngày , mà ai là người có thể nói rằng suốt thời gian ấy toàn gặp chuyện vui hoan hỷ ? Chuyện buồn chẳng là bao ?

Thường thì ai cũng thở phào nhẹ nhõm “Qua đi một năm!”

Bao nhiêu những thăng trầm trong một năm mà chỉ nhà nào biết được nhà đó thôi. Có lúc có thể tâm sự kể lể với bạn bè, nhưng có lúc chẳng làm sao nói được nên lời với bạn bè, đành im lặng , đành mín miệng gượng cười “Cũng chẳng có gì”, và nín lặng mong cho thời gian qua đi … mọi sự được đổi mới .

Rất là nhiều người, một năm không được “hanh thông” . Một năm toàn gặp nhiều điều xui xẻo, rủi ro . Một năm buôn bán thất bại . Một năm nợ nần chồng chất . Một năm bịnh hoạn , mất mùa . Một năm không làm nên tích sự gì cả …. Và mau mau đón mừng năm mới . Đốt cho những điều xúi quảy qua đi, tẩy trần , tẩy rửa những ô uế của năm cũ . Cầu Trời , Vái đất cho một năm mới sáng tươi hơn , an khang thịnh vượng hơn .
Và họ thay đổi toàn bộ …những gì có thể thay đổi . Từ tường nhà , màn cửa, giường gối, chén bát , soong nồi …
Thế rồi họ sắm sửa những gì đẹp nhất cho căn nhà, trong những ngày mới của năm mới. Hoa , đèn , bánh, trái …
Nhà đẹp, để đẹp suốt năm . Thức ăn dư tràn, để tràn dư trong 12 tháng . Tiền mới , áo mới để thay đổi đi bộ mặt khó ưa , xấu xí của năm cũ .
Người ta tin rằng mọi sự thay đổi mới mẻ ấy, sẽ đem lại được nhiều điều tốt đẹp trong năm mới cho họ …

Và thế là, cho dù qua một năm sự đổi thay như thế nào đó? Tốt hay Xấu thì cho đến cuối năm người ta vẫn lập lại những lề thói cũ. Năm này nối tiếp năm khác , và đời này nối tiếp đời khác … để chỉ một mục đích duy nhất là : Mong moi sự mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn .

Tôi trầm ngâm suy ngẫm: về Hôn Nhân cũng không khác thế !

Có những người bạn hỏi nhau: “Cậu than thở đời sống vợ chồng của cậu lắm, mà sao cũng ăn mừng ?”
Hoặc “Cặp ấy cãi nhau tối ngày mà cũng bày đặt kỷ niệm ngày cưới”

Quý vị nói như thế là không đúng rồi . Vô tình quý vị xem thường những công sức của chính mình đã cố gắng thật nhiều trong thời gian qua .

Chẳng ai có thể khẳng định được cuộc hôn nhân của mình là hoàn toàn tốt đẹp . Là thành công . Là không hề có điều gì trắc trở cả . Và cũng vì thế mà mỗi ngày , mỗi ngày án ly hôn mỗi tăng :
Theo kết quả nghiên cứu khoa học mới công bố về tình trạng ly hôn của thanh niên trên địa bàn TP.HCM của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Tài (Trung tâm Tư vấn giáo dục tâm lý thể chất TP.HCM), hiện nay cứ bình quân 2,7 cặp kết hôn thì có một cặp ly hôn. Độ tuổi ly hôn dưới 30 chiếm tỉ lệ cao và năm sau luôn tăng hơn năm trước. (Báo Pháp Luật ngày 9/2/2010)
Cuộc sống hôn nhân nào cũng có những khó khăn của nó. Chuyện những ngày mới yêu nhau, xa lắm với những ngày sống bên nhau. Có thể Anh cũng mơ ước hoặc luôn mơ ước được trở lại những ngày hai người mới quen nhau . Và Chị cũng thế, có thời gian nào đẹp bằng thời gian hai người mới yêu nhau đâu ?

Thế mà thời gian thật khắc nghiệt , có thể xóa hẳn đi những dư âm tốt đẹp của ngày đó, càng nhiều năm thì sự bào mòn càng nhiều hơn lên .

Tôi không là ngoại lệ trong việc bào mòn ấy .

Bây giờ một ngày không cãi nhau là một ngày tốt đẹp.
Một ngày nhìn nhau với sự hòa hoãn, thân tình là sự thành công .

Đa số những cặp hôn nhân sống như thế là những cặp hôn nhân Công Giáo, họ vì Lời Khấn Thề năm xưa mà phải sống đời với nhau .
Họ nhịn nhục để mà sống .
Họ vì con cái mà phải sống
Và vì, không sống như thế … là không được, nên họ phải sống .

Và có lẽ họ là Thánh thật !

“Vì quả thật, trong bậc sống gia đình với ơn Bí tích hôn nhân công giáo, mỗi thành viên đều được ơn nên thánh và phải nên thánh mới bảo đảm được hạnh phúc gia đình ở trần thế nầy, và ở đời sau. …
Không là thánh, không nên thánh, thì đời sống gia đình đôi khi trở nên vực thẳm cho nhau, trở nên một địa ngục ở trần gian đầy khủng khiếp.” (Trích “Thánh Trong Nhà” của Cao Huy Hoàng)

Có thể ngày đó Tổ Phụ Adong ta cũng có thời gian ân hận vì “người đàn bà Thiên Chúa ban cho” đã làm thay đổi cuộc sống của ông, đã làm cho ông phải ra nông nổi như thế này ?

Tôi cũng có lúc ân hận phải chi đừng lấy anh ?
Và Anh chắc chắn rất phiền hà vì sự cản trở của tôi làm tương lai Anh mù tối .
Phải chi chúng tôi đừng gặp nhau ? Phải chi … và phải chi .. suốt nhiều năm như thế .
Để bây giờ sau gần 40 năm chung sống , tôi thấy được rằng :
“Phải chi ngày ấy tôi lấy một người đàn ông khác làm chồng. thì cũng chừng ấy chuyện xảy ra và đoạn cuối cùng chắc chắn rồi cũng phải đi đến đây thôi, không có gì khác được”

Những ngày còn lại của hôn nhân hôm nay là những ngày chờ Tết đến . Như một thói quen , như một tiền lệ. Một năm qua đi, là một sự ao ước được làm đổi mới hơn năm đã qua . Cho dù cũng chẳng có gì là đổi mới, cũng chẳng có gì là khá hơn năm cũ, nhưng sự ao ước vẫn mạnh mẽ và thúc đẫy được những đổi thay . Ai cũng tin thế . Và tôi cũng tin thế .

Tôi tin ngày mới của năm nay . Chúng tôi cùng đi Lễ thì cả năm nay chúng tôi sẽ sốt sắng hơn . Chúng tôi cùng ăn những món ngon bên nhau thì năm nay chúng tôi có nhiều ngày hạnh phúc được đi ăn với nhau hơn. Tôi sẽ tặng quà cho anh hay anh sẽ tặng quà cho tôi thì năm nay chúng tôi sẽ có nhiều niềm vui cho nhau hơn …
Và nếu cứ thấy , hằng năm ngày đánh dấu kỷ niệm hôn nhân lại về, thì ta hãy vui mừng vì chính ta đã cố gắng chạy về đến đích , từng năm từng năm một. Ta đã thật sự kiên cường chiến đấu với những bản ngã của mình, để vẫn đứng chung với nhau trong ngày kỷ niệm mới này …

Đó là sự thành công chứ không phải sự thất bại .
Hãy ăn mừng sự chiến thắng của mình mà lâu nay ta cứ lầm tưởng là ta thất bại, ta cứ tưởng là ta không còn gì để ăn mừng .

Thật sự hãy vui mừng vì hạnh phúc trong cuộc sống là chính ta đã thắng được bản ngã của ta chứ không phải ở người nào đã mang lại cho ta.

Mừng ngày 30-3-2010
Tặng Anh và tất cả bạn bè
K.H



TÌNH CHÚA – TÌNH NGƯỜI

A.P Mặc Trầm Cung


Bước ra từ tòa cáo giải tâm hồn Liên dâng lên một niềm cảm xúc hân hoan vui sướng pha lẫn một chút ân hận vì những lần mình đã oán trách Chúa sao cứ vô tình làm ngơ trước nỗi khổ của mình, ra ghế quỳ hai hàng nước mắt cứ thế tuôn rơi, những giọt nước mắt hạnh phúc, sung sướng vì hôm nay mình đã được giao hòa với Chúa và một lát nữa đây bé Thùy Linh được chịu phép Rửa Tội, hôm nay lại có sự hiện diện của các cô chú trong nhóm Bảo Vệ Sự Sống, đặc biệt là sự có mặt của người mẹ nghèo khổ của Liên từ miền bắc vào và hai người em trai cũng có mặt để chia sẻ niềm vui và nâng đỡ Liên trong những lúc khó khăn ngặt nghèo này. Liên đã cảm nhận được tình yêu của Chúa thật bao la vĩ đại, nếu không có tình Chúa yêu thương thì có lẽ Liên đã phạm một tội tày đình mà cả đời cũng không thể nào Liên có thể tha thứ cho mình được, chỉ vì nông nỗi thiếu nghĩ suy mà một chút xíu nữa thôi là Liên đã giết chết chính đứa con bé bỏng của mình, từ lúc sanh bé Thùy Linh đến nay đã được 1 tháng, cứ mỗi lần cho con bú, ngắm nhìn con là Liên lại thầm cảm tạ tình thương cao vời của Thiên Chúa.
Như một cuốn phim của cuộc đời mình đang dần dần được quay lại trong tâm trí Liên.
Năm 19 tuổi Liên lập gia đình với Thành, hai người đã sống với nhau những chuỗi ngày hạnh phúc và bé Phương Linh là nguồn hạnh phúc của hai người, dù cuộc sống gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng tình yêu đã giúp hai người vượt qua tất cả, vì cuộc sống nơi quê nhà không có nhiều việc làm, hai vợ chồng Liên cùng dìu dắt nhau vào miền nam kiếm sống, thuê nhà trọ để ở, Liên làm công nhân, còn Thành làm phụ hồ, cuộc sống tuy vất vả nhưng thật hạnh phúc, vì có bé Phương Linh là nguồn động lực cho hai người cố gắng vươn lên. Cuộc đời cứ tưởng sẽ êm ả trôi, nhưng định mệnh lại trớ trêu, đã cướp mất đi của Liên niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ấy, vào một buổi sáng khi Liên vừa tỉnh giấc, nhìn thấy Thành vẫn còn say ngủ Liên choàng tay qua ôm nhẹ chồng, nhưng người Thành lạnh ngắt và cứng đơ, Liên hoảng hốt kêu cứu, khi hàng xóm chạy qua thì mới biết Thành đã chết tự bao giờ, người ta nói Thành bị trúng gió, vì hai vợ chồng nằm ngủ dưới đất, vì quá nghèo mà hai người không sắm nổi cho nhau một cái giường. Liên đau khổ tột cùng nhưng vẫn phải cố sống vì còn bé Phương Linh, mới 22 tuổi đời mà Liên đã trở thành góa phụ.
Sau khi chồng chết được 3 năm, thời gian để tang chồng cũng đã mãn, Liên ra mộ chồng nói lên ý nguyện của mình và cũng xin phép gia đình chồng là từ nay nếu gặp được người nào ý hiệp tâm đầu thì cho phép Liên đi thêm bước nữa, gia đình chồng mọi người đều đồng ý vì thấy Liên còn quá trẻ, thời gian sau Liên quen Mạnh, hai người cũng tìm hiểu nhau thêm 3 năm nữa, Liên cũng đưa Mạnh ra thăm mộ chồng, trước mộ của Thành, Mạnh cũng đã hứa với Thành là sẽ bảo bọc và yêu thương mẹ con Liên suốt đời, sau đó hai người đưa nhau về quê để thưa chuyện cùng cha mẹ, cả hai gia đình đều chấp thuận và dự tính ngày làm đám cưới cho Liên và Mạnh.

Niềm vui nhất của Liên là lúc thưa chuyện với cha mẹ Thành, Bố ruột của Liên nói với Bố của Thành: “tôi đã gả nó cho anh chị thì bây giờ anh chị đứng ra lo cho cháu”, còn Bố của Thành thì bảo: “nó là con ruột của anh chị thì anh chị cứ đứng ra lo”, Bố của Mạnh khi nghe chuyện thì nó: “thôi vậy thì cả hai ông Bố đều đứng ra lo liệu cho nó”, vậy là từ nay Liên có tới 3 người Bố, Liên cảm thấy mình thật sung sướng. Và bố mẹ của Thành đã làm 7 mâm cơm mời bà con lối xóm đến dự như là để báo cho mọi người biết là ông bà cho phép con dâu đi lấy chồng, hôm đó cũng có sự hiện diện của Mạnh như để giới thiệu cho mọi người biết người chồng mới của Liên.
Nhưng đời nào ai học được chữ ngờ, khi chỉ còn khoảng 3 tuần nữa là đến ngày đám cưới, hôm đó có dịp đến nhà Mạnh chơi khi ngồi nói chuyên với người mẹ và người em gái của Mạnh, Liên thật tình cho mẹ của Mạnh biết là trong một lần mổ đã phải cắt bỏ đi buồng trứng bên trái, Liên đâu có ngờ sự chân thành của Liên lại là đại họa cho đời mình, mọi người vẫn vui vẻ cười nói, nhưng hôm sau thì gia đình Mạnh bắn tin là hủy bỏ đám cưới vì cho rằng Liên sẽ không còn khả năng sanh con nữa, như thế là Mạnh trai tơ (Mạnh hơn Liên 3 tuổi) lấy gái góa mà lại không còn sanh đẻ nữa thì không thể được và bà mẹ còn dùng áp lực với Mạnh, nếu Mạnh cố tình lấy Liên bà sẽ từ bỏ luôn.
Mạnh rất buồn nhưng không dám vượt quyền mẹ, Bố của Mạnh cũng rất buồn nhưng “lệnh của bà” luôn là quyết định cuối cùng trong gia đình từ trước tới nay. Nhưng ông cũng đã đưa ra một chiêu khá táo bạo và độc đáo cho Mạnh và Liên. Vào một buổi tối ông gặp riêng Mạnh và Liên và nói với hai đứa rằng: “Hay là hai con đưa nhau vào nam cứ ăn ở với nhau như vợ chồng đến khi có con về đây bố mẹ sẽ làm lễ tuyên bố sau, lúc đó mẹ con không còn nói là Liên không có khả năng sanh con”.
Vâng lời bố, Mạnh và Liên đưa nhau vào nam, thuê phòng trọ ở, chẳng bao lâu Liên có thai, Mạnh đã đưa Liên đi khám thai 2 lần ở một bệnh viện Sài gòn, rồi một hôm Mạnh nói với Liên là đi Ban Mê Thuột 2 tuần để làm ăn, Liên vẫn tin tưởng và không hề có sự nghi ngờ nào về Mạnh, nhưng đã một tháng rồi không thấy Mạnh về, linh tính báo cho Liên biết có điều gì không ổn, sau đó Liên nhận được một cú điện thoại của người em dâu của Mạnh báo cho Liên biết là Mạnh về miền bắc chuẩn bị làm đám cưới với một người con gái khác theo sự sắp đặt của gia đình.
Liên bán tín bán nghi, liền gom góp tiền bạc trở về quê để tìm hiểu, một sự thật quá phũ phàng mà chính Liên không thể ngờ được sao họ lại có thể lừa dối Liên như vậy được. Mẹ của Mạnh nói thẳng với Liên rằng bà không thể cưới Liên cho Mạnh được, khi Liên cho bà biết là mình đã có thai, bà nói: “tao không nhìn nhận cái thai này, mày phá đi, để chỉ làm nghiệp chướng”, khi Liên gặp Mạnh, thì Mạnh cũng hất hủi, Liên nói: “Nếu anh không còn thương tôi thì anh hãy lo cho tôi sanh đẻ xong thì anh muốn cưới ai thì cưới”, Mạnh trả lời: “Bản thân tao còn chưa lo cho tao được, còn đang ăn bám đây, thì lo được cho ai”, và Mạnh đưa cho Liên 700 ngàn đồng bảo Liên đi phá thai, Liên không nhận, Bố của Mạnh thì tránh mặt không dám gặp Liên.
Liên đau khổ tột cùng, khóc không biết bao nhiêu là nước mắt, mọi người đều bảo Liên phá bỏ cái giống bạc tình bạc nghĩa ấy đi, giữ làm gì, kể cả cha mẹ, anh chị em, bà con thân thuộc đều buồn, căm giận và bắt Liên phải từ bỏ cái thai trong bụng, cho rằng bào thai này đúng là nghiệp chướng. Liên không tìm được một nguồn an ủi nào mà chỉ toàn là những điều mắng nhiếc hất hủi của mọi người trong gia đình, nếu bụng mang dạ chửa mà không có chồng ở lại quê nhà thì chỉ đem lại sự nhục nhã cho gia đình, dòng họ. Liên lại lủi thủi một mình vào nam, những người bà con thân thuộc trong nam cũng không ai muốn chứa chấp Liên vì sợ mang gánh nặng và nhất là họ còn nặng đầu óc dị đoan là nuôi bà bầu trong nhà làm ăn không nên.
Liên cũng chạy đến cùng Đức Mẹ ở nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – Sài gòn để cầu nguyện xin ơn soi sáng, nhưng sao cứ rơi vào bế tắc, mọi người đều bỏ rơi Liên vì muốn Liên phá bỏ đi cái thai trong bụng, còn nếu để thì sống làm sao, ai chăm lo lúc sanh đẻ rồi tiền đâu lo chi phí và nuôi con, còn tương lai của bé Phương Linh nữa, trong cơn cùng quẫn Liên đã có lời xúc phạm đến Chúa, vì sao Chúa nỡ để đời Liên rơi vào hoàn cảnh éo le này, Liên đã ngã lòng cậy trông, đức tin bị lung lay và Liên đã thốt lên lời hỏi Chúa: “Lạy Chúa! Nếu Chúa có thật thì xin Chúa hãy tỏ dấu chỉ cho con biết, sao Chúa lại để con quá đau khổ thế này?”. Nhưng tất cả cũng chỉ rơi vào im lặng và trong cơn cùng quẫn Liên quyết định phá thai.
Đúng lúc đó sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa đã tỏ lộ cho Liên gặp được các cô chú trong nhóm BVSS, Liên như người chết đuối giữa dòng đời, các cô chú trong nhóm BVSS như chiếc phao cho Liên bám víu, những lời khuyên thắm thiết chí tình, những sự quan tâm tận tình như người ruột thịt, các cô chú lo lắng cho Liên như con ruột của mình, nơi xứ lạ quê người mà gặp được những tấm lòng tốt như thế này thì thật là hồng ân của Chúa ban cho, làm sao Liên có thể nói hết những nỗi vất vả mà các cô chú đã lo cho Liên từ ngày đó cho đến nay. Khi hay tin Liên đã sanh em bé, gia đình cũng thay đổi không còn buồn giận Liên nữa, dù nghèo bố mẹ cũng vay mượn một ít tiền để cho mẹ của Liên vào nam thăm cháu và ở lại vài tháng để chăm sóc mẹ con Liên những tháng đầu còn yếu ớt.
Giờ đây quỳ trong một ngôi Thánh đường mới lạ, nhưng sao lại quá thân thương, tất cả những người có mặt hôm nay đâu có quan hệ ruột thịt máu mủ gì mà sao tình cảm của mọi người dành cho Liên lại gần gũi, quý mến quá vậy. Những giọt nước mắt hạnh phúc lại tuôn rơi để nói thay cho lời cảm tạ chân thành tri ân Tình Chúa quá bao la và tình người đầy ấm cúng.
Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu ấy có khả năng xoa dịu mọi nỗi đau khổ của nhân loại, có một sức mạnh hàn gắn mọi tâm hồn tan nát đau thương. Tình yêu ấy như dòng suối mát trong, như sữa mật ngọt ngào huyền nhiệm làm mới lại tình yêu của con người với nhau. Như Đức Giêsu đã phán: "Hỡi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”(Mt 11: 28). Ngài muốn chúng ta hãy đặt tất cả những nỗi lo âu vào Lòng Thương Xót của Người hãy phó thác vào sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa.. Như trong thư thứ nhất của thánh Phêrô đã xác quyết "Mọi lo âu anh em hãy trút tất cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em." (1Pr 5: 7). Chúa Giêsu còn nhấn mạnh: “Đừng lo lắng về ngày mai, ngày nào có cái khổ của ngày ấy”(Mt 6,34). Và Người khẳng định một cách mạnh mẽ rằng: “Ngay cả tóc trên đầu các anh em đã được Cha đếm cả rồi”(Mt 10, 30).
Thiên Chúa là Tình Yêu, tình yêu chấp nhận đau khổ, tình yêu cần phải được triển nở trong đau khổ. Vì thế, nhiều khi Thiên Chúa sử dụng những con đường và những phương thế làm cho chúng ta rất khó có thể nhận ra được tình yêu của Người. Chính Đức Giêsu Kitô đã bày tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta bằng cả cuộc sống và cái chết đau thương của Người trên thập giá. Người đón nhận lưỡi đòng đâm thâu để mở rộng Trái Tim của Người, để những giọt máu và nước cuối cùng còn đọng lại trong tim cũng phải tuôn đổ cho nhân loại chúng ta.

* (Tên các nhân vật đã được thay đổi.)
A.P Mặc Trầm Cung




CHỦ THUYẾT VÔ THẦN MỚI
MỚI CHỪNG NÀO?

(How New Is the New Atheism?)

Trần Hữu Thuần dịch


“Khi Con của Người đến, Người có sẽ tìm thấy đức tin trên quả đất không?” (Luca 18, 8)

Ngày sau khi tháp đôi của Trung tâm mậu dịch thế giới sụp đổ vào tháng chín 2001, vợ tôi và tôi tham dự một nghi lễ đặc biệt tại Thánh đường Công giáo Thiên Chúa Ba Ngôi gần Đại học Georgetown nơi tôi đã dạy học nhiều năm. Bill Byron, vị chánh xứ dòng Tên và nguyên viện trưởng Đại học Công giáo Mỹ, dâng Thánh Lễ và giảng một bài giảng đầy ý cầu nguyện. Nếu quí vị muốn hòa bình, ông nói, hãy thực hiện công bình. Người có đức tin phải không bao giờ từ bỏ hy vọng cải thiện phẩm chất cuộc sống khắp thế giới. Chúng ta cần tránh các giải pháp đơn giản hóa và kết án tổng quát các tôn giáo. Chúng ta tất cả phải làm cho thế giới công chính hơn không kể bao lâu, và không phải sử dụng bạo lực. Giữa nổi kinh hoàng và đau đớn to lớn những ngày sau 11 tháng 9, khuyến khích tương tự về thực hiện khoan dung, tình yêu, và công bình ngân vang qua các nơi thờ phượng trên khắp thế giới.

Vào khoảng đồng thời với các nghi lễ đó đang tiếp tục, một nhà triết học và sinh viên khoa học thần kinh trẻ tuổi tại Đại học Standford, Sam Harris, đang sáng chế ra một giải pháp khác, cấp tiến hơn nhiều, cho vấn đề đang leo thang của chủ thuyết khủng bố toàn thế giới. Khoan dung và đồng cảm đơn giản sẽ không làm được gì, ông ta nghĩ. Quả thực, khoan dung của đức tin là một nguyên ủy chính yếu của vấn đề. Đề nghị của Harris, như được trình bày trong các sách bán chạy nhất của ông Chấm dứt đức tin (The End of Faith) và Thư cho một quốc gia Kitô giáo (Letter to a Christian Nation), rõ như ban ngày. Chúng ta có thể loại bỏ đức tin khỏi thế giới không phải bằng bạo lực mà bằng lý trí và sự lan tràn của khoa học. Tự xem mình như là một ông Phật mới, Harris quyết định chia sẻ với các người đọc của ông—và với toàn thế giới—một cái gì như một phiên bản mới của Tứ diệu đế (Four Noble Truths) của Đức Phật cũ. Richard Dawkins và Christopher Hitchens thiết yếu cũng tuyên bố tương tự.

CHỨNG ĐẾ THỨ NHẤT
(The First Evident Truth)

Nhiều người trên thế giới đang sống những cuộc sống bi thảm một cách không cần thiết, Harris ghi nhận, phảng phất dội lại Diệu đế thứ nhất của Đức Phật “mọi cuộc sống đều đau khổ.” Giả định về bối cảnh của Harris là rằng mục đích của cuộc sống con người là để tìm hạnh phúc. Ngược lại, triết gia Immanuel Kant và các nhà tư duy khôn ngoan và các bậc thầy tâm linh khác đã dạy rằng hạnh phúc chỉ đến như là một phó sản phẩm của việc tìm kiếm một điều gì vĩnh cửu. Nhắm trực tiếp đến hạnh phúc là một phương cách chắc chắn không tìm thấy nó. Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa không hiện hữu và vũ trụ là không cứu cánh, điều tốt nhất chúng ta có thể làm là nỗ lực cho một thế giới trong đó hạnh phúc, “một hình thái sung túc là điều thay chỗ cho mọi chuyện khác,” được bảo đảm cho số đông các cá thể (Harris, 205) . Harris không định nghĩa hạnh phúc, cũng không phân biệt nó với các thể loại khác của toại nguyện. Ông đơn giản giả định rằng tất cả chúng ta đều biết theo trực giác hạnh phúc là gì và rằng chúng ta phải lấy đó làm chủ đích của mọi hiện hữu đạo đức (170-71).
Rằng tất cả chúng ta chịu đau khổ và cuối cùng chết là không thể tránh khỏi, Harris nhận ra, vì đó là cách làm sao thiên nhiên và tiến hóa hành động. Chúng ta có thể làm dịu một số ưu phiền tự nhiên và kéo dài cuộc sống của chúng ta thậm chí nếu chúng ta không thể hoàn toàn loại bỏ đau khổ. Tuy nhiên, nổi đau đớn vô nghĩa mà chủ thuyết khủng bố gây ra là một chuyện khác. Có thể chúng ta có thể làm điều gì đó với chuyện đó, một điều gì cấp tiến. Như với việc nhận ra đầu tiên của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu đối mặt hoàn toàn với sự kiện rằng thế giới thực tại chứng kiến nhiều nổi khốn khổ không cần thiết, rõ nét nhất là các biến cố như cuộc thảm sát 11 tháng 9.

CHỨNG ĐẾ THỨ HAI
(The Second Evident Truth)

Harris tuyên bố, nguyên ủy của biết bao nhiêu phiền não chính là đức tin, cách riêng dưới hình thái niềm tin vào Thiên Chúa. Đức tin là “niềm tin không chứng cứ” (belief without evidence) (58-73, 85), và theo Hitchens điều này chính là điều “đầu độc mọi thứ.” Dawkins đồng ý (308), và cả ba tác giả cố gắng thuyết phục người đọc của họ rằng các đức tin độc thần—Do thái, Kitô, và Hồi giáo—tạo cơ sở cho một phần đáng kể của điều ác mà hiện thân con người làm khổ nhau suốt ba ngàn năm qua. Nhưng không phải chỉ các ý niệm kinh hoàng về Thiên Chúa như các ý niệm của al-Qaeda và những người cuồng tín khác gây ra biết bao khổ đau không cần thiết. Chính là đức tin, thuần túy và đơn giản.
Tuyên bố này không hoàn toàn như Diệu đế thứ hai của Đức Phật, nói rằng nguyên ủy của đau khổ là tham vọng (tanha). Nhưng có sự tương đồng, trong trường hợp này vì các ý kiến bệnh hoạn để thoả mãn ước muốn hình như không đáy biết bao nhiêu con người có do ảo vọng (Harris 23, 26-27, 38-39, 58-73). Trong một công thức gần như ngắn gọn như của Đức Phật—nguyên ủy của đau khổ là đức tin—các người vô thần mới của chúng ta muốn tập chú sự chú ý một cách chính xác trên những gì cần bị tiệt trừ nếu hạnh phúc đích thực phải được thực hiện.
Ý kiến Thiên Chúa được làm thành (fabricated) bởi đức tin là “nguy hiểm cách nội tại” (intrinsically dangerous) (44) và ác độc về luân lý (morally evil), không kể nó được hình thành dưới hình thái nào trong trí tưởng tượng của chúng ta. Tại sao? Tại vì không có chứng cứ nào về điều đó, và thực tế “không một chứng cứ nào thậm chí có thể quan niệm được” (no evidence is even conceivable) (23). Đặt căn bản nhận thức trên “chứng cứ” không chỉ là cần thiết về ý thức mà còn thiết yếu cả về luân lý. Thất bại thử nghiệm về chứng cứ, điều làm cho khoa học đáng tin cậy, “đức tin tôn giáo đại diện cho việc dùng sai quyền lực của tâm trí chúng ta cho đến nổi nó tạo thành một thể loại đơn biệt ngoan cố, văn hóa—một điểm ảo bên ngoài nó mà tiến trình lý trí chứng minh là không có thể được. Khi gán ép lại trên từng thế hệ, nó làm cho chúng ta không còn khả năng nhận ra thế giới của chúng ta đã nhượng bộ chừng nào cho một quá khứ đen tối và mọi rợ.” (25)
Các người vô thần mới muốn làm thật sáng tỏ rằng điều thực sự ác của các tôn giáo tin vào Thiên Chúa không những chỉ là các hình ảnh phỏng theo con người (anthropomorphic images) thô thiển của các thần chúa trỗi sinh từ “các điều tự nhiên tầm thường hơn—các lực như tham vọng, ghét bỏ, và sợ hãi” (15), mà còn rằng các thần chúa đó trỗi sinh từ “đức tin” hơn là từ “chứng cứ.” Cả “đức tin” và “chứng cứ” cần phải được hiểu cách cẩn thận. Ở đây từ “đức tin” có chức năng với các người vô thần mới gần như là “tham vọng” (greedy dersire) với Đức Phật. Đức Phật đã gán nổi đau khổ của chúng ta với xu hướng bám víu vào các sự vật một cách ám ảnh cho đến nổi chúng ta tự làm cho vướng phải thất vọng một khi chúng ta phải đối mặt với sự phù vân của mọi hiện thân. Vì thế nếu chúng ta muốn hạnh phúc, tốt hơn cả chúng ta đừng bám víu vào bất cứ thứ gì. Theo Đức Phật, “tham vọng” là nguồn gốc của đau khổ của chúng ta. Theo các người vô thần mới, đó chính là xu hướng của chúng ta tin vào bất cứ điều gì không có chứng cứ. Đức tin làm cho thế giới thành thảm hại hơn biết bao nhiêu so với việc cần đến nó.
Niềm tin vào Thiên Chúa là một phiên bản độc hại của đức tin. Chỉ cần xem đến mọi phương cách trong đó niềm tin vào Thiên Chúa và cuộc sống đời sau khuấy trộn thế giới ngày nay. Ví dụ, tôi đang viết các trang này vào ngày chết chóc nhất cho đến nay của việc thất bại hoàn toàn ở Iraq (15 tháng 8, 2007), khi những người cực đoan Hồi giáo giết chết nhiều đến năm trăm thành viên của giáo phái Yazidi. Mù quáng tin tưởng vào các định đề liên quan đến Thiên Chúa và cuộc sống đời sau, một nhóm những người tin vào tôn giáo tự làm nổ tung nhân danh Thiên Chúa nhằm để đồng thời cũng làm nổ tung những người tin vào tôn giáo khác. Chúng ta cần bằng chứng nào khác để nói rằng đức tin hữu thần không những đánh lừa mà còn là nguy hiểm? Đức tin vào Thiên Chúa xem ra ngây thơ vô tội với phần lớn chúng ta, nhưng theo Harris, đức tin có thể dẫn đến bất cứ thứ gì. Sự tin tưởng nhẹ dạ điên khùng dẫn người Kitô giáo đến tin tưởng, theo ngôn từ của Harris, rằng Giêsu “lừa dối sự chết, và nâng thân xác lên vào thiên đàng,” hoặc ý kiến hết sức phi lý về việc chuyển thể (transubtanstiation) cho phép người Công giáo tin rằng Giêsu có thể “bị ăn dưới hình thái một chiếc bánh cracker” và rằng người tin có thể uống máu ông ta nhờ uy lực của “vài từ Latin đọc bên trên rượu vang Burgundy ưa thích của quí vị,” xem ra cũng tàng tàng vô hại. Nhưng cánh cửa đức tin mở ra cho điều vô nghĩa thơ ngây như thế bất hạnh thay cũng cung cấp không gian cho các niềm tin không biện minh dẫn đến “các tội ác quỉ quái nhất chống lại nhân loại” (78-79).
Các người vô thần mới đinh nghĩa đức tin là niềm tin không có chứng cứ (faith as belief without evidence). “Chứng cứ” là một cụm từ sống còn, nêu lên vô số lần trong sách của Harris và tại các điểm chìa khóa trong sách của Dawkins (282-83). Nhưng “chứng cứ” là gì? Các tác giả không bao giờ cẩn thận định nghĩa cụm từ đó có ý nghĩa gì, rõ ràng nó có nghĩa đối với họ là bất cứ những gì khả dĩ thử nghiệm, thực nghiệm, hoặc quan sát được cách công khai. Các tuyên bố khác thường như tuyên bố về tôn giáo, như Harris xác nhận, đòi buộc một “thể loại thử nghiệm khác thường,” nhưng chẳng có loại nào khả dĩ. Vì chỉ có khoa học mới chứng thực hay không thực các định đề của nhân loại, người ta phải kết luận rằng các ý niệm tôn giáo, thiếu bất cứ chứng cứ cụ thể nào, không thể tuyên bố là đúng sự thực một cách hợp pháp. Không trải qua một vài thể loại thử nghiệm thực nghiệm, gần như bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành chấp nhận được trong tâm trí tôn giáo, kể cả niềm tin rằng tử đạo bằng nổ bom tự tử sẽ phóng người ta lập tức vào thiên đàng. Vì thế, chỉ có các tuyên bố có “đầy đủ chứng cứ” là chấp nhận được với những ai muốn chấm dứt sự thảm hại con người.
Các nhà thần học ngày nay hiểu đức tin như là sự cam kết trọn vẹn hiện thân của con người với Thiên Chúa (the commitment of one’s whole being to God). Nhưng các người vô thần mới, dội lại một nền thần học giờ đây đã thành cổ điển, nghĩ đến đức tin theo một nghĩa trí tuệ và định đề hẹp hòi. Vị trí của đức tin theo họ không phải là một con tim dễ bị thương tổn mà là một trí tuệ yếu hèn. Harris, Dawkins, và Hitchens xem mọi hình thái đức tin là phi lý, và lạm dụng lý trí bằng cách chứa chấp đức tin trong tâm trí con người cũng là kh
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 18.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(Tiếp theo bài trên)

Harris, Dawkins, và Hitchens xem mọi hình thái đức tin là phi lý, và lạm dụng lý trí bằng cách chứa chấp đức tin trong tâm trí con người cũng là không đạo đức một cách kinh hoàng. Thật sai lầm theo luân lý để tin vào bất cứ điều gì không đủ chứng cứ. Theo quan điểm đó, các người vô thần mới nhận lấy những gì mà các người vô thần của thế hệ cũ hơn gọi là “đạo đức tri thức” (ethic of knowledge) làm nền tảng cho cuộc sống cả luân lý lẫn nhận thức.Vào các năm cuối 1960, nhà sinh hóa học đáng chú ý và vô thần Jacques Monod tuyên bố rằng “đạo đức tri thức” phải là nền tảng của mọi tuyên bố luân lý và trí tuệ. Ông tuyên bố thật là không đạo đức khi chấp nhận bất cứ ý kiến nào thất bại trong việc dính liền với “định đề khách quan” (postulate of objectivity). Nói cách khác, thực là sai lầm về luân lý khi chấp nhận bất cứ tuyên bố nào không thể chứng thực được trên nguyên lý bằng hiểu biết khoa học “khách quan.” Nhưng, thế thì, chính bản thân giáo điều đó thì sao? Có ai có thể chứng tỏ một cách khách quan rằng định đề khách quan là chân thực? Ở đây Monod thành thực hơn các người vô thần mới rất nhiều. Ông thú nhận có một ngoại lệ cần thực hiện với định đề khách quan. Đạo đức tri thức chính tự bản thân là một chọn lựa “tùy tiện” (arbitrary), không phải là một tuyên bố đã từng có đầy đủ chứng cứ khoa học. Đức tin, hình như thế, cũng mở ra một cánh cửa đủ rộng cho chủ thuyết vô thần nữa.
Dĩ nhiên, mọi hiểu biết phải khởi đầu ở đâu đó, và cái ở đâu đó được gọi cách đúng đắn là đức tin, thậm chí nếu các người chỉ trích của chúng ta bất bình về từ ngữ đó. Ở một vài tầm mức nền tảng, mọi hiểu biết bắt nguồn từ một tuyên ngôn về tin tưởng, trong một “ý nguyện để tin” (a “will to believe”). Ví dụ, chúng ta phải tin tưởng vũ trụ đã có một vài ý nghĩa nào đó thậm chí trước khi chúng ta có thể bắt đầu tìm hiểu về tính tri thức của nó. Các tuyên ngôn không tri thức được về đức tin cũng ủng hộ mọi tuyên bố các người vô thần đưa ra, kể cả việc chính thức loại bỏ đức tin. Trong một luận văn nhan đề “Ý nguyện để tin” (The Will to Believe), luận văn mà các người vô thần của chúng ta không tỏ dấu hiệu nào cho thấy họ đã đọc, triết gia William James chỉ trích W. K. Clifford về việc đưa ra một tuyên bố đạo đức cách tùy tiện cho đến nổi thực là sai lầm nếu tin vào bất cứ điều gì mà không đầy đủ chứng cứ. Tất cả những gì quí vị phải làm là đọc luận văn rất quan trọng của James để nhận ra rằng, ít nữa trong những gì chúng ta đã nhìn thấy cho đến nay, hoàn toàn chẳng có gì mới trong chủ thuyết vô thần mới. Nhưng xin để chúng ta tiếp tục xem xét.

CHỨNG ĐẾ THỨ BA
(The Third Evident Truth)

Phương cách để tránh nổi đau khổ vô ích của nhân loại ngày nay là loại bỏ đức tin ra khỏi bề mặt trái đất. Diệu đế thứ ba của Đức Phật nói rằng phương cách để vượt qua đau khổ là tìm cách xa rời khỏi bám víu vào ham muốn. Các người vô thần mới—cách riêng Harris, người ưa chuộng một phiên bản biên tập lại rất sát giáo lý Phật giáo—tin rằng xa rời khỏi ràng buộc với đức tin có thể loại bỏ đau khổ không cần thiết cho thế giới. Ở đây, “đức tin” là cái hầm không đáy trong ý thức tạo thành chỗ cư trú cho mọi thứ từ niềm tin vào đĩa bay, đến phù thủy, linh hồn, thiên thần, ma quỉ, thiên đàng, và Thiên Chúa. Đa phần các niềm tin đó xem ra cũng vô hại, nhưng nếu chúng ta cho phép người ta bỏ đi thậm chí các ví dụ vô tội nhất của đức tin, điều gì sẽ ngăn cản một người cấp tiến Hồi giáo khỏi tin tưởng rằng ý định của Thiên Chúa là hủy diệt Israel và Hoa kỳ, hoặc một người theo chủ thuyết Zion khỏi tin tưởng rằng Thiên Chúa muốn chúng ta sát hại những người Palestine vô tội, hoặc một người Kitô giáo khỏi tin tưởng rằng ý Thiên Chúa muốn bỏ bom các nơi phá thai? Một khi ý nguyện của Thiên Chúa bị tưởng tượng để chấp nhận các hành động bạo lực như vậy, lúc đó điều gì cũng có thể được—kể cả các điều kinh hoàng nhất không thể nghĩ tới.
Thông cảm được, lúc đó, các người vô thần mới hỏi làm cách nào chúng ta có thể chuyển hướng một thế giới nơi giết chóc và gây thương tật vì kỳ thị nhân danh Thiên Chúa trở thành thực sự không thể nghĩ tới được. Vì một thế giới như vậy chưa hiện hữu, đòi buộc phải có một giải pháp cấp tiến: chúng ta phải gạt bỏ toàn bộ đức tin. Mọi người cần phải chấm dứt tin tưởng vào bất cứ khẳng định nào không thể được “chứng cứ” ủng hộ. Điều này cách riêng áp dụng cho tất cả mọi cuốn sách mà người theo tôn giáo đã từ bao đời cho là thiêng thánh. Vì loại văn chương cho là được cảm hứng của các tôn giáo tin vào Thiên Chúa là một sản phẩm của đức tin, không có một lý do nào để chấp nhận nó cách nghiêm chỉnh. Ngoại trừ một vài đoạn đây đó hấp dẫn cách thẩm mỹ, các Kinh thánh của mọi tôn giáo đều vô giá trị. Hơn nữa, những gì xem ra đúng về luân lý hay quyền rủ về thẩm mỹ trong các cuốn sách cho là thánh thiêng và các truyền thống của chúng ta có thể đến được bởi lý trí hoạt động độc lập với đức tin.
Việc chỉ trích đức tin cũng áp dụng cả cho thần học, điều mà các người vô thần mới tỏ ra tuyệt đối khinh khi, hoảng kinh với sự kiện rằng vào lúc này ở thời đại chúng ta thậm chí vẫn còn các điều lố bịch như là các phân khoa khoa bảng mang tên như vậy. Họ băn khoăn tại sao càng nhiều học giả và những người khác mà chúng ta trông mong họ là thông minh xem ra không chú ý đến việc thần học nguy hiểm đến thế nào cho thế giới. Thần học, nói cho cùng, dẫn phái Hồi giáo này giết chết phái khác nhân danh Thiên Chúa. Chính trong đầu óc của các nhà thần học mà các khích lệ về toà án dị giáo và tàn sát đã nẩy nở. Chứng cứ không thể chối cãi được. Lịch sử của Do thái, Kitô, và Hồi giáo là một lê lết của vô số đau khổ và chết chóc gây ra bởi các cuộc tranh chấp thần học lố lăng. Đó là phán đoán của tất cả ba người chỉ trích của chúng ta. Xin thành thực nhìn vào gốc rễ của chủ thuyết khủng bố ngày nay, họ có thể khuyên bảo chúng ta như thế. Xin nhìn vào tất cả các vấn đề quốc gia và quốc tế gây ra bởi ý niệm về Thiên Chúa trỗi sinh từ các sản phẩm tưởng tượng thần học ăn bám vào xu hướng đáng khinh của chúng ta về đức tin. Mỗi một khi chúng ta tháo giày ra ở trạm kiểm soát an ninh của sân bay, người ta có thể thêm, cũng xin chỉ suy tư đến nguyên ủy cuối cùng của điều tuế toái này.
Các nguy hiểm không tiền lệ đe dọa chúng ta ngày nay, Harris nhấn mạnh, sẽ chỉ trở nên tệ hại hơn trừ phi một giải pháp kiên quyết có thể được tìm thấy. Người theo phái phóng túng và xã hội khờ khạo gợi ý rằng nếu chúng ta muốn có hòa bình, chúng ta tất cả cần thực hiện công bình. Nhưng một giải pháp như vậy chưa đủ cực đoan cho các người vô thần mới. Nguyên ủy cội rễ của các hình thái rồ dại nhất của bạo lực dù sao cũng không phải là nghèo đói và bất công. Đúng ra, chính là đức tin và thần học. Đức tin và thần học có thể dẫn một số người đến các nghi lễ đầy nguyện cầu như người tôi đã nói ngay đầu chương này. Nhưng vì kinh nguyện dựa vào tính phi lý của đức tin, bằng cách thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta chỉ đang kéo dài nổi đau khổ của con người về lâu về dài. Ngày sau ngày 11 tháng 9, thay vì dự phần vào một nghi lễ tôn giáo, vợ tôi và tôi lẽ ra dùng thời giờ của chúng tôi tốt hơn, theo Harris, bằng cách làm việc tìm đến một chủ thuyết thế tục cấp tiến chối bỏ bất cứ tình trạng nào của đức tin của đủ mọi thể loại. Chỉ có “chấm dứt đức tin” nắm giữ bất cứ lời hứa nào về việc cứu thế giới.
Thay vì chấp nhận Diệu đế thứ ba dịu dàng hơn của Đức Phật xưa cũ như là phương cách chấm dứt đau khổ, các người vô thần mới tìm cách đề ra cho chúng ta một thể loại khác cấp tiến nhưng, họ nghĩ, hữu hiệu hơn về tu khổ hạnh—đích danh là, xóa sạch đức tin khỏi tâm trí chúng ta. Môn học mới này về thanh tẩy, nếu thi hành theo các tiêu chuẩn khắc nghiệt của các người vô thần mới, sẽ dẫn đến việc loại bỏ mọi xu hướng ngây ngô tin tưởng mà không chứng cứ. Ý niệm về Thiên Chúa do đó phải được tẩy sạch vĩnh viễn khỏi nhận thức con người, nhưng điều này không thể xẩy ra riêng biệt với việc “chấm dứt đức tin.” Làm sạch thế giới khỏi những gì như là Osama bin Laden và al-Qaeda bằng vũ lực sẽ không làm tròn sự việc. Điều cần phải loại bỏ là đức tin dưới mọi hình thái, và tất cả các người vô thần mới của chúng ta nghĩ về chính họ như là tiên phong trong việc tẩy sạch trước sau chưa hề có này.
Đến lúc này, các người vạch trần sự thực của chúng ta hình như đã hoàn tất, nhưng họ chỉ mới khởi đầu. Ở đây họ bắt đầu cống hiến một điều gì đó mới mẻ đáng giật mình, ít nữa ra ngoài tầm với của tính độc tài vô thần. Họ nói, không chỉ đức tin mà sự khoan nhượng lịch thiệp và văn minh của chúng ta về đức tin phải bị lật gốc rễ lên nếu tiến trình đến hạnh phúc đích thực muốn thành tựu. Harris là minh nhiên nhất trong quan điểm này. Những người ôn hòa tôn giáo và biện bác của họ về quyền đức tin, ông bực tức, chịu “phần lớn, trách nhiệm về sự đối kháng tôn giáo trong thế giới chúng ta…” (45). Dawkins hoàn toàn ủng hộ ông:

Bao lâu chúng ta tôn trọng nguyên lý rằng đức tin tôn giáo phải được tôn trọng, đơn giản vì nó là đức tin tôn giáo, khó mà rút sự tôn trọng khỏi đức tin của Osama bin Laden và những người ôm bom tự sát. Việc làm thay thế, một điều rõ ràng cho đến nổi không cần phải nhấn mạnh, là từ bỏ nguyên lý tự động tôn trọng đức tin tôn giáo. Đó là lý do tại sao tôi làm mọi điều có thể làm được trong quyền hạn của tôi để cảnh báo con người chống lại chính đức tin, không chỉ chống lại cái gọi là đức tin “cực đoan.” Việc giáo huấn của tôn giáo “ôn hòa,” cho dẫu tự chúng không phải là cực đoan, là một mời gọi rộng mở cho chủ thuyết cực đoan. (306)

Khoan nhượng đức tin vẫn còn là một thành phần không thắc mắc của các xã hội dân chủ, nhưng ảo giác ác độc mà sự độ lượng này cho phép sẽ tiếp tục gây ra nổi khốn khổ vô cùng. Nếu chúng ta nuông chiều bất cứ thể loại đức tin nào, chúng ta tự đặt mình thành nạn nhân hóa bởi “những người tin đích thực” đủ mọi thể loại. Tôn trọng không kỳ thị với đức tin đủ để làm cho mỗi một con người khoan nhượng giữa chúng ta thành một tòng phạm trên thực tế (de facto) gây điều ác.
Thay vì đồng cảm với đức tin tôn giáo theo phương cách dịu dàng mà những người ôn hòa thế tục và tôn giáo đã làm trong quá khứ, các người vô thần mới muốn chúng ta từ bỏ sự tôn trọng như vậy cả với tự do đức tin lẫn với tư duy tôn giáo. Không có gì cản trở việc nắm bắt nhìn rõ vấn đề khẩn cấp nhất của thế giới ngày nay—chủ thuyết khủng bố cảm hứng từ tôn giáo—một cách kém tư duy hơn là thần học ôn hòa và sự khoan nhượng thế tục phóng túng về đức tin. Cuối cùng, chúng ta phải nhận biết rằng sự khoan nhượng thần học, thế tục, cánh trái, sau hiện đại, và lòng tốt cách đơn giản của chúng ta về đức tin tự nó đã trở thành không thể khoan nhượng được. Những người ôn hòa tôn giáo, Harris viết, “tưởng tượng rằng con đường đến hòa bình sẽ mở ra bằng phẳng một khi mỗi một người trong chúng ta đã học cách tôn trọng các niềm tin không biện minh được của người khác.” Nhưng “chính ý niệm về khoan nhượng tôn giáo—sinh ra từ khái niệm rằng mỗi hiện thân con người phải được tự do tin tưởng vào bất cứ điều gì người ta muốn về Thiên Chúa—là một trong các động lực chính yếu đẩy chúng ta tiến đến vực thẳm không đáy” (14-15). Từ bỏ bất cứ quan tâm về tính đúng đắn chính trị, Harris xem ra tuyệt đối nghiêm chỉnh trong lời tuyên bố của ông rằng chúng ta không còn có thể khoan nhượng được sự khoan nhượng phóng túng về đức tin. Như thế, ở đây, chúng ta gặp được một điều gì tương đối mới mẻ trong các bài viết của các người vô thần mới.
Cũng mới mẻ qua Dawkins, Harris, và Hitchens là sự không khoan nhượng chẳng những với thần học mà còn với sự điều chỉnh mềm mại, “Neville Chamberlain ,” mà gần hết những người đồng bạn của họ và những người theo chủ thuyết thiên nhiên khoa học đối xử với sự hiện hữu của đức tin (Dawkins 66-69). Trong nhiều năm nghiên cứu và bàn luận với các người thiên nhiên khoa học, tôi chưa hề gặp phải một sự không khoan nhượng hoàn toàn như vậy với lòng khoan nhượng. Sự không khoan hượng với lòng khoan nhượng (intolerance of tolerance) xem ra là một khía cạnh thực sự mới của giải pháp của các người vô thần mới đối với vấn đề khốn khổ của con người. Gần hết mọi điều Dawkins, Harris, và Hitchens (và cố vấn triết học của họ Dennett) có gì để nói về tôn giáo, đức tin, và thần học đều đã được nói đến rồi. Chắc chắn việc từ khước phủ trùm vị trí nhận thức về đức tin tôn giáo không phải là mới mẻ, cũng không phải việc họ kết án tôn giáo trên cơ sở luân lý. Chủ thuyết thiên nhiên khoa học, mà các giáo điều của nó các người vô thần mới của chúng ta đã lập thành trường phái một cách có phương pháp, đã từ lâu cho rằng thiên nhiên là điều duy nhất có và rằng khoa học là con đường đặc quyền đi tới việc nhận hiểu thế giới. Tuy nhiên, đa phần những người trung kiên với chủ thuyết thiên nhiên khoa học trong giai đoạn hiện đại đã nhận ra rằng họ may mắn sống trong các nền văn hóa và các đất nước nơi đa số các đức tin được chấp nhận. Họ đã biết ơn vì lòng nhận hậu đó, vì nếu khác đi, chủ thuyết thiên nhiên khoa học có thể không bao giờ được phép hiện hữu song song với các hệ thống niềm tin chống đối lại nó theo ý thức hệ. Quả thực, nếu nó tùy thuộc vào một cuộc bầu phiếu tại Hoa kỳ ngày nay, như các người vô thần mới chắc chắn đồng ý thế, chủ thuyết thiên nhiên khoa học sẽ bị bỏ phiếu đuổi khỏi địa bàn bởi đa số các công dân.
Các người vô thần mới đúng khi chỉ ra biết bao nhiêu hệ thống niềm tin khác với niềm tin của họ thường thường không khoan nhượng và man dã. Nhưng chắc chắn họ phải nhận ra rằng hệ thống niềm tin của chính họ, chủ thuyết thiên nhiên khoa học, sẽ không bao giờ tự nó được thành lập trong thế giới hiện đại này nếu không phải nhờ lòng khoan nhượng trải ra cho những “người tư duy tự do” (freethinkers) bởi cũng chính các nền văn hóa tôn giáo đã cho khoa học trỗi sinh. Câu trả lời của họ là rằng trước tiên các nền văn hóa tôn giáo chính chúng nó không bao giờ là một biện minh thực sự luân lý hay hợp lý để hiện hữu. Đức tin, vì nội tại là điều ác, một cách lý tưởng, phải không bao giờ được trao một chút quyền hiện hữu nào. Hơn nữa, khi sự thông minh con người thoạt xuất hiện trong tiến hóa, nó lẽ ra không cho phép chính nó bị kiềm hãm bởi đức tin, bất kể bằng cách thích nghi sinh học nào của tâm trí với không lý trí đã xẩy ra như thế.
Harris nghĩ ông có thể tránh được chuyện không khoan nhượng cực đoan này vì theo mức ông liên hệ, nó dựa vào lý trí hơn là đức tin. Tuy nhiên, chủ thuyết khoa học (scientism) của chính Harris và Dawkins, cột sống trí tuệ của chủ thuyết thiên nhiên khoa học của họ, là một niềm tin cũng có thể không “đủ” “chứng cứ” khoa học hay thực nghiệm. Không có phương cách nào, nếu không suy nghĩ vòng quanh, thiết lập thí nghiệm khoa học để chứng minh rằng mọi mệnh đề đúng phải đặt cơ sở trên chứng cứ thực nghiệm hơn là đức tin. Việc kiểm duyệt mọi trường hợp về đức tin, theo nghĩa hẹp hòi của các người vô thần mới của cụm từ này, sẽ cũng phải kể cả việc loại bỏ chủ thuyết khoa học nữa. Người theo chủ thuyết thiên nhiên khoa học thực sự đầy đủ tư duy—Einstein là một ví dụ tốt—đã đủ thành thực để thú nhận rằng đức tin, cách riêng đức tin rằng vũ trụ có thể được hiểu đầy đủ, đều đặt nền tảng cho chính công việc của khoa học. Hơn nữa, tuyên bố rằng sự thực chỉ có thể đạt tới bằng lý trí và khoa học hoạt động độc lập với bất cứ đức tin nào tự nó cũng là một tuyên bố về đức tin. Sự nhất quán hoàn toàn sẽ đòi buộc rằng thế giới tư duy của các người vô thần mới cũng phải bị tẩy sạch chủ thuyết khoa học và chủ thuyết thiên nhiên khoa học nữa.

CHỨNG ĐẾ THỨ TƯ
(The Fourth Evident Truth)

Phương cách để loại bỏ đức tin, và từ đó loại bỏ đau khổ, là đi theo con đường thánh thiêng của phương pháp khoa học. Đề xuất bởi Harris, và được các người vô thần mới khác ủng hộ, con đường khó khăn nhưng không thể thiếu này đi đến khai sáng đích thực là phiên bản Bát chánh đạo (the Eightfold Path) của các người vô thần mới như được kê đơn cho Tứ điệu đế của Đức Phật. Đi theo con đường khoa học sẽ đem lại cho người ta một thể loại mới về “liên kết đúng” (right association)—nói rõ ra, với những ai đã nắm được tinh thần của khoa học—và “nhận thức đúng” (right understanding), một phương pháp thực nghiệm sẽ đem tâm trí chúng ta vượt khỏi những tưởng tượng và tầm thường của đức tin tôn giáo. Chúng ta có thể tìm thấy khai sáng đích thực chỉ nếu chúng ta đích thân tập sự với các bậc thầy đó, trong đó có Harris, Dawkins, Dennett, và Hitchens, những người đã đạt đến khai sáng bằng phương cách lý trí khoa học.
Giải pháp này chỉ ngang trang vừa lứa trong tính nông cạn của nó vớí chủ thuyết cơ bản tôn giáo mà nó phản ánh cho dẫu trong khi chống đối lại. Trong một thế giới hỗn loạn và không chắc chắn, sự hấp dẫn của một giải pháp đơn độc, đơn giản có thể không cưỡng lại được. Khi sự vật trở thành xấu đi, nó có xu hướng trở thành quỉ quái và xé toạc ra một trong vô số tao của mạng lưới phức tạp của đời người, trách cứ mọi điều chỉ riêng vì tao đó. Ví dụ, một số Kitô hữu Mỹ mộ đạo ngày nay tìm thấy nguyên ủy chính duy nhất của tất cả mọi bệnh hoạn của thời hiện đại trong “chủ thuyết Darwin.” Loại bỏ chủ thuyết Darwin, như họ gọi thế, và mọi sự sẽ tốt đẹp hơn. Charles Darwin, nhà tự nhiên học khiêm tốn tại Downe, giờ đây thường bị nhiều người Kitô hữu chỉ danh như là nguyên ủy duy nhất hoặc chính yếu của thảm họa xã hội và đạo đức của chúng ta. Các ý niệm mới lạ của Darwin bị coi như là nguyên ủy cuối cùng của chủ thuyết vô thần, chủ thuyết quốc xã, chủ thuyết Công sản, và sự suy tàn của các giá trị tôn giáo và gia đình. Như thế, giải pháp của người đề xuất thiết kế thông minh Phillip Johnson cho các bệnh hoạn đó là đem chủ thuyết Darwin ra khỏi tâm trí của con người, và phương cách để thực hiện điều đó là trình bày các điều thay thế cho lý thuyết tiến hóa trong các trường trung học.
Đức tin, với các người vô thần mới, tương đồng với những gì là chủ thuyết Darwin với những người thuyết tạo dựng. Loại bỏ đức tin và mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Với Dawkins, Harris, và Hitchens, việc loại bỏ tôn giáo khỏi tâm trí chúng ta và đời sống công cộng là liều thuốc bách bệnh sẽ chấm dứt đau khổ và gian ác, ít nữa đến chừng mực thiên nhiên cho phép.Và phương cách tốt nhất để hạ bệ đức tin không phải bằng bạo lực hay thậm chí hành động chính trị mà bằng cách làm đầy tâm trí với khoa học và lý trí. Các ông bạn vô thần của chúng ta tin tưởng chắc chắn vào sự hữu hiệu của chương trình này. Vì thế có thể sẽ còn ít nhất một trường hợp của đức tin sót lại trên quả đất khi Con của Người trở lại.

Ý NGHĨA CỦA ĐỨC TIN
(The Meaning of Faith)

Nếu người đọc vẫn còn chưa rõ ràng, việc nhận thức “đức tin” mà các người vô thần mới cho là dĩ nhiên mang rất ít tương đồng với đức tin của thần học. Điểm khác biệt chính yếu là rằng các người vô thần mới nghĩ về đức tin như là một nỗ lực sai lầm về trí tuệ (an intellectual erroneous attempt) với một điều gì như nhận thức khoa học chẳng hạn, trong khi thần học nghĩ về đức tin như là một tình trạng tự dâng nộp (self-surrender) trong đó toàn thể hiện thân con người, và không chỉ trí tuệ, kinh nghiệm qua việc được đưa đi vào trong một chiều kích của thực tại sâu thẳm hơn và thực sự hơn bất cứ thứ gì có thể được khoa học và lý trí nắm bắt. Đó là lý do tại sao rất thông thường đức tin đi kèm với nghi lễ. Nhưng định nghĩa của đức tin mà Dawkins, Dennett, Harris, và Hitchens tất cả chấp nhận lại là “niềm tin không chứng cứ.” Họ nghĩ về đức tin như là một loạt giả thiết—ví như giả thiết về Thiên Chúa hoặc giả thiết về linh hồn—thiếu chứng cứ khoa học hoặc thực nghiệm đầy đủ cho những người có lý trí chấp nhận. Họ cho phép rằng nều thể loại đích thực của chứng cứ thực nghiệm có bao giờ sẽ bày tỏ ra, lúc đó những người có lý trí sẽ được phép đưa ra sự đồng thuận với giả thiết Thiên Chúa hoặc giả thiết linh hồn. Nhưng lúc đó sẽ không còn cần đến đức tin nữa. Tri thức sẽ thay thế nó.
Với thần học, tuy nhiên, mục tiêu là làm sâu thêm đức tin, không phải loại bỏ nó. Theo các truyền thống hữu thần, tinh túy của cuộc sống lý tưởng, ngay cả cuộc sống anh hùng, là sẵn sàng chờ đợi trong đức tin, tín nhiệm và hy vọng về sự hoàn thành rốt cuộc và sự giải thoát cuối cùng. Hậu quả, khi Harris và các người khác mời gọi mọi người từ bỏ đức tin của họ và sống chỉ bằng lý trí, họ không hề biết họ đang đòi hỏi điều gì. Lời mời gọi tham gia với họ vào một thế giới không có đức tin đối với phần lớn con người nghe như một khẩn nguyện thu nhỏ thế giới chúng ta thành một điểm nơi tất cả chúng ta đều có thể bị ngột ngạt. Vì thậm chí nếu vũ trụ gồm 300 tỉ hệ mặt trời, và nhiều vũ trụ, nếu nó hiện hữu, hàng tỉ nhiều hơn, người có học thức biết rằng thế giới vẫn là hữu tận và có thể tàn lụi. Và theo tính toán của bất cứ ai, một mầu nhiệm siêu nhiên vô tận vẫn nhiều ấn tượng hơn bất cứ sự bao la không gian và thời gian hữu tận dưới quyền của khoa học. Khuyên bảo người ta từ bỏ những gì họ cho là—dù đúng dù sai—đường đời của họ đến sự vĩ đại vô tận của mầu nhiệm siêu nhiên, và mời gọi họ rút nhỏ cuộc đời, tâm trí, và tâm hồn họ vào trong một thế giới tương đối nhỏ nhoi của việc mục tiêu hóa khoa học, sẽ không được tiếp đón nồng nhiệt ở khắp nơi. Dĩ nhiên, khoa học chẳng có gì sai cả. Nhưng nếu chúng ta được phép phỏng theo hình ảnh phi thời gian của Edwin Abbott, Harris, Dennett, Hitchens, và Dawkins xem như người đang ở một thế giới hai chiều, những người sau khi đã làm chủ được lãnh vực sinh sống đó, giờ đây bận bịu mời gọi những ai đang chiếm giữ thế giới được thú nhận là mất phương hướng hơn của nhiều chiều kích vui lòng đi xuống sống với họ trong vùng Đất phẳng (Flatland).

(Còn tiếp) Mời qúi độc giả đón xem TRANG VĂN số 04 – Chủ Nghĩa Vô Thần Mới, Vô Thần Chừng Nào?
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 20.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này


15/04/2010



Kính thưa Quí Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả kính mến.

Chúa đã Phục Sinh Alleluia. Ngài truyền cho các môn đệ và cả chúng ta nữa một sứ mạng: “Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật”. Ngày xưa, các tông đồ đã phải bôn ba khắp nơi để rao giảng, các Ngài đã phải dầm sương dãi nắng, chịu đói khát, chịu khổ cực và chịu hy sinh chính mạng sống mình. Cũng như, các nhà truyền giáo đã đến với đất nước Việt Nam chúng ta để loan truyền Tin Mừng Ơn Cứu Độ, những nỗi vất vả cực khổ của các Ngài bút mực nào diễn tả cho hết được. Nhờ đó, hạt giống Tin Mừng đã sinh sôi nảy nở mà chúng ta là thế hệ con cháu đang hưởng nhờ. Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học, thế giới dường như thu hẹp lại, có ai ngờ rằng, ngồi bên chiếc computer có thể thực hiện được công tác truyền giáo. Những bài viết, nhưng câu văn chứa dựng những thông điệp của Tình Yêu Thiên Chúa đều có thể chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa đến với mọi tâm hồn, ở khắp mọi nơi.

Cảm tạ Hồng Ân Phục Sinh của Chúa đã tuôn đổ trên mỗi chúng con đã chiếu soi và ban thần khí của Chúa xuống thánh hóa tâm hồn chúng con làm bài viết của chúng con được trong, được sạch để ngôn ngữ của Thiên Chúa Tình Yêu được thể hiện qua những tác phẩm trong TRANG VĂN – 04 này.

Nguyện xin Chúa, Mẹ Maria, và Thánh cả Giuse chúc lành và tuôn đổ muôn Hồng Ân xuống cho TRANG VĂN nhỏ bé của chúng con.

Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo
Đồng Xanh Thơ Sài – Gòn


Kính dâng lên Chúa, Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse. Cùng kính gởi đến Qui Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả:

Tác phẩm Tác giả
Sự Chẳng Lành Sinh Ra Sự Lành Lm. Nguyễn Kim Anh
Chiều Rơi Trên Đường Vắng …… Trần Ngọc Mười Hai
Thư Gởi Mẹ Trầm Thiên Thu
Tôi Đàn Giản
Tiếng Chuông Của Gió An Thiện Minh
Chuyện Về Em Sông La
Đường Em Có Đi Hằng Đêm Bước Qua Trần Ngọc Mười Hai
Tín Hiệu Vui & Hang Toại Đạo Vũ Thủy
Thân Xác Chúng Ta Chính Là Đền Thờ CTT A.P Mặc Trầm Cung
Chủ Thuyết Vô Thần Mới, Vô Thần Chừng Nào? Trần Hữu Thuần


Kính thưa Quí Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả kính mến.

Đồng Xanh Thơ Sài Gòn mỗi tháng phát hành 2 kỳ vào ngày 1 và 15 hằng tháng. Rất mong nhận được sự ưu ái quan tâm của quí vị, đóng góp ý kiến xây dựng cho Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo mỗi ngày được phát triển tốt đẹp theo đường hướng của Giáo Hội, cùng đóng góp bài vở cho TRANG VĂN của chúng ta ngày càng thêm phong phú, các bài văn xuôi của quí vị mang tâm tình ngợi khen Thiên Chúa, diễn tả Tình yêu Thiên Chúa trong cuộc sống, sáng Tình Chúa, đậm tình người đều được Câu Lạc Bộ trân trọng đón nhận.

Bài vở xin quí vị gởi về trước ngày 12 để phát hành số ngày 15 và trước ngày 28 để phát hành số ngày 1 tháng tới. Các bài được chọn sẽ đăng trên trang Đồng Xanh Thơ Sài Gòn của website www.dunglac.orgwww.tamlinhvaodoi.net và được gởi đến trên 10.000 địa chỉ mail của các độc giả trong nước và hải ngoại.

Bài vở xin quí vị gởi về:
Hoàng Thi Ca.
Email: [email protected]

Chân thành cám ơn quí vị


SỰ CHẲNG LÀNH SINH RA SỰ LÀNH !

Lm. Nguyễn Kim Anh


1 Năm ấy tôi đang làm thầy già, khỏang 1990.Ghé một xứ vùng Hố Nai.

- Ông Rự chết, Gái Lớn xây nhà khỏe. Mỗi gia đình phúng điếu 50.000đ. 500 gia đình được 25 triệu tức năm cây vàng.Chôn cất cao tay hết một cây. Còn bốn cây xây nhà !

- Tính cả đời cha con ông Rự, năm làm không dư được một chỉ vàng.Chết nằm xuống có năm cây, làm đựơc cái nhà khá to !

2
Năm sáu mẹ con Thu Chàm bữa đói bữa no. Con thì đứa đen đứa xám, mỗi đứa một cha, đa số là Chàm.Thu từng ở Suối Kiết, có thời ở Phò Trì.Mẹ con dắt díu nhau về ở ven làng.Con như khúc củi cháy,nhà chưa bằng cái chòi người ta. Một hôm thằng cu Đen đốt cháy nhà, lửa lan cháy cả bờ sông, mẹ con chỉ còn bộ đồ trên người. Xóm làng thương, mỗi người một xe bò, kẻ cắt tranh người chặt cây chặt róng nhồi đất…Chỉ mất có ba con chó mà Mẹ con Thu Chàm được căn nhà trát đất mái tranh ba gian hai chái lớn bằng các nhà lớn trong làng PA.

Ông Rự chết nghèo xơ xác.Chị Thu Chàm cháy nhà chỉ còn bộ đồ mặc trong người. Tòan là sự chẳng lành.Thế mà khơi dậy lòng tốt nơi người khác. Sự dữ lại sinh ra sự lành !
Như Thập giá Chúa Kitô vậy ?

Lm. Nguyễn Kim Anh



CHIỀU RƠI TRÊN ĐƯỜNG VẮNG,
CÓ TA RƠI GIỮA CHIỀU

Hồn ta theo vạt nắng, theo làn gió đìu hiu.
(Phạm Duy – Đường Chiều Lá Rụng)
Trần Ngọc Mười Hai
(Mt 22: 23-33)


Thôi chết rồi! Bần đạo lại phải thú thật với bầu bạn, là: lúc này, sao bản thân bần đạo cứ loanh quanh luẩn quẩn với ba chữ “Chiều. Chiều. Rồi lại chiều.” Chắc có bạn, vốn là bạn bè của bần đạo hoặc của bè bạn, lại sẽ hỏi: lão gia, nay sao nói nhiều về “chiều” đến thế? Chắc, cuộc đời của lão hẳn cũng đã xế chiều, rồi nhỉ? Ấy chết. Không phải thế đâu. Bần đạo chưa từng gia nhập hội người có tuổi. Chưa cao nhiên. Vẫn còn được liệt kê vào nhóm “Trẻ người non dạ”. Vẫn cứ yêu. Yêu da diết. Yêu đến độ, mới có vài buổi “đường chiều lá rụng”, mà thôi. Này đây, bần đạo xin minh chứng bằng những buổi chiều, nhưng không chiều.

Số là, buổi tập hôm ấy có hát có hò, cho người vui. “Hát sĩ” lại đã khước từ, không hát nữa. Nói không, vì nhạc bản có câu kết, hết sức “nản”. Không hợp lẽ tình nhà Đạo, như sau:

“Chiều tan trên đường tối, có ta như rã rời,
Hồn ta như gò mối, đang chờ phút đầu thai.”
(Phạm Duy- bđd)


Mới thử hát câu kết: “đang chờ phút đầu thai” thôi, mà hát sĩ ấy đã ngần ngại. Ngại và ngần: là người Công giáo, ta có nên hát những điều mà người viết, chủ trương khác? Khác niềm tin. Khác chính kiến không? Nghe hỏi, bần đạo chẳng dám trả lời, ngay tức thì. Nhưng chiều nay, ngay giờ lễ, bần đạo bắt chụp được lập trường/tư tưởng của ai đó. Rất dễ nghe. Nghe, không như khám phá mới. Nghe, như một ngầm hiểu. Hiểu, để biểu dương. Nghe, là nghe thế này:

“Bạn hữu tín đồ người Thiên Chúa giáo, có lần họ bảo với tôi: họ vẫn coi tôi như tín đồ rất tốt lành, của Đạo Chúa. Tôi, thì tôi lại nghĩ: họ mới là Phật tử thuần thành, giống như tôi. Bởi, chúng ta tuy có khác, nhưng vẫn đeo đuổi cùng một ý hướng, rất tương tự.”(Phát biểu của Đức Đạt Lai Lạt Ma, The Australian Catholics, Summer 2010, tr. 9)

Lời của vị Phật Sống, Đức Đạt Lai Lạt Ma, đẹp là thế. Thế nghĩa là, lời của đức ngài là lời rất sống. Rất thật. Nhiều Phật tính. Cũng đành thế, nhưng lời của đấng bậc linh mục, rất Dòng tên, lại cũng giông giống như sau:

“Tôn giáo, là điểm son của mọi thứ. Mọi sự. Nhưng, tôn giáo còn có điểm khá tệ hại, của nhiều người. Tức, những thứ/những người tuỳ nguồn hứng. Nguồn rất hứng, nhận từ Tình yêu của Thiên Chúa. Hoặc, từ tình thân thương, của mọi người. Những thứ, gợi từ niềm hãi sợ hoặc ghét ghen. Nếu tôn giáo được tạo hứng từ những cảm xúc có hận thù. Hoặc ghen ghét. Thì, tự nó đang huỷ diệt chính mình. Tự nó, đang gây hại cho mọi người.” (x. Lm Andrew Hamilton sj, The Australian Catholics, bđd tr. 17)

Xem thế thì, lời của vị Phật Sống. Của linh mục. Hoặc, của người viết nhạc, đâu khác gì câu ca, ta vẫn hát:

“Hoàng hôn mở lối,
rừng khô thở khói
Trời như biển chói,
Từng chiếc thuyền hồn lướt trôi
Neo đứt, một lần cuối thôi.
Cho cánh buồm lộng gió vơi, gió đầy.”
(Phạm Duy – bđd)


Vấn đề là, người hát chưa nhập cảnh và nhập hồn với tư tưởng, của người viết. Rất chính Đạo. Đạo của ông, không là đạo “ta bà”, nhiều đường lối. Hoặc, đạo rất rối. Của Trung cổ. Thời Đồ Đá. Tức, ban sơ nhiều thế kỷ. Đạo, mà ông nghĩ, không phải và không chỉ là “chờ phút đầu thai”, như bạn của tôi từng hiểu. Những tưởng thế. Nhưng, đạo ấy là Đạo của “Tình yêu”, như ông viết. Vào hôm ấy:

“Lúc này tôi yêu đời lắm. Nhưng tôi vẫn nói tới cái chết. Chẳng hạn, qua những kiếp lá trên đường trong bài “Đường Chiều Lá Rụng”. Lá, đang như những chiếc thuyền rung rinh trong ngọn gió, bỗng nghe đất gọi về. Lá rơi xuống, để trở thành những ngôi mộ úa, trên đường chiều. Nơi đó, có tôi và người yêu đang đi trong cuộc tình.” (x. Phạm Duy Tổng Quát, www.phamduy.com)

Với lá, ta bảo là “đất gọi về”. Với người, thì người và nơi (tức, chốn miền mà “hồn tôi đang chờ phút đâu thai”) lại là “nơi có tôi và người yêu đang đi, trong cuộc đời”. Xem thế thì, nơi nào có những người vẫn hằng yêu đương. Yêu, Đức Chúa của Tình Yêu. Là, mình đang về với nhau, trong cuộc tình. Ở nơi đó, có “phút đầu thai”, để mình sống. Sống, kiểu sống mới. Kiểu, mà người Công Giáo (còn gọi là kẻ tin vào Đức Kitô) bảo là “Sống lại”. Tức, duyên kiếp, tiền kiếp hay hậu kiếp. Là, cơ duyên của con người con/người con của Đức Chúa. Một khi chết.

Bạn và tôi vẫn cứ không tin, ư? Đây này, bần đạo dám đề nghị với bạn và với tôi, ta thử tìm về cội nguồn của ngôn ngữ, có những chữ, rất như sau:

“Các ông lầm,
Các ông không tường Sách thánh
và quyền năng của Thiên Chúa.
Quả vậy,
thời phục sinh, người ta không còn cưới vợ lấy chồng,
nhưng như thiên thần
ở trên trời.”
(Mt 22: 29-30)


Như thiên thần, là lối nói của thánh sử. “Chờ đầu thai”, là lối viết nhạc và kiểu ca hát, của nghệ sĩ. Người đời. Thậm chí, của nhà Phật. Của Đấng Allah. Chắc chắn, các Vị không là quỉ thần/tà ma, gì đâu hết. Về điều này, vị linh mục mang tên trích ở trên, đã ghi lại một nhận định rất hài hoà của đấng bậc khác am hiểu Phật pháp/Phật học, hơn. Vị đó, là Thượng Toạ Hsin Tao. Vị này, có lời như sau:

“Tôn giáo, có chức năng thể hiện mục tiêu của mọi người, trong cuộc đời. Và, hiểu thấu đáo những việc ấy. Ở đó, tôi tìm ra sự khôn ngoan. Hiểu biết. Từ đó, với sự hỗ trợ của một số thượng toạ khác, tôi hội nhập được mọi thứ. Tôi có được hoằng pháp mà hiểu thêm được nhiều điều tự tại. Của tâm thân. Sự thật.

Bản thân tôi, cũng nhận ra rằng: ngày nay, nhiều tôn giáo đã trở thành phổ biến trong xã hội. Nhưng, nhiều người cũng bắt đầu lẫn lộn về nhiều thứ. Do đó, không hiểu được sự thật.” (x. Lm Andrew Hamilton, Conversation with a master bđd tr. 10)

Để giúp bạn và tôi am hiểu điều mà thượng toạ trên muốn diễn tả, lm Andrew Hamilton, sj lại đã có thêm những lời lẽ rất thêm thắt, như sau:

“Như Đạo Chúa thời hưng thịnh, Phật giáo cũng nhấn mạnh đến “lối mòn bản thân” hầu giúp ta lướt vượt những điều nổi bật ở phần trên/bên ngoài. Lướt và vượt, ngõ hầu đi sâu vào phần sắc nét nhất của cuộc đời. Nơi mọi người. Cả hai Đạo/hai niềm tin trên cũng đều có điểm ‘nhấn’ về các tác động thâm sâu nơi con người. Đó, là một kết nối hài hoà với người khác. Những người đang sống quanh ta. Xem thế, thì Đạo của Phật, hay Đạo Chúa, vẫn mê say tin tưởng. Vẫn có giá trị, rất cao vời.” (Lm Andrew Hamilton sj, bđd)

Đạo của Chúa. Của Trời Phật. Vẫn có những buổi chiều, nhưng không “về chiều” chút nào hết. Dù, cũng ở buổi xế, nhưng không “chiều”. Chiều ở đây, tuy chưa hẳn là “chiều chuộng”. Hoặc, có chiều nhưng chẳng chuộng. Hoặc, vẫn cứ là tịch liêu. Tịch dương. Hay tịch mịch. Cũng tịch nhiên, rất liên miên.
Tịch gì thì tịch, tu tịch hay viên tịch cũng đều là “tịch”, nhưng xin đừng tịch biên, tịch tín hoặc tịch Đạo, là được. Không tịch biên, “tịch” Đạo của bạn đạo khác, ta cũng nên nghe thêm ý tưởng của người Phật tử uyên thâm Phật pháp, đã có lời hoằng pháp rất như sau:

“Người trẻ hôm nay, cũng phải và cũng nên chuyên chở/thực hiện sự tịch mịch/tịch liêu của trời đất. Lẫn tâm tư. Hãy đem tịch liêu/thinh lặng mà chăm chút cho địa cầu, đất lành mình đang sống. Cũng rất nên.” (Lm Andrew Hamilton sj, bđd, tr. 10)

Nói như tăng ni/Phật tử của thời đại, khác gì nói lời nghệ sĩ năm xưa, vẫn từng hát? Hát, một tâm linh/tâm sự, của cuộc đời:

“Chiều ôm vòng tay, một bó thuyền say, thuyền lơ lửng mãi.
Từng chiếc, xào xạc lá bay
Là tiếng, cội già khóc cây
Hay tiếng, lòng mình khóc ai,
giờ đây? (Phạm Duy – bđd)


Vẫn “chiều ôm vòng tay”. Có lá bay. Có, cội già khóc cây. Khóc, không hẳn vì chiều buồn. Có chết chóc. Khóc ở đây, là khóc vì vui sướng. Vui và sướng, là bởi “lá (đã) rụng về cội”. Về, với Chúa. Có, vòng tay ôm. Khóc, vào buổi chiều, còn là:

“Chiều không chiều nữa, và đêm lần lữa
Chẳng thương chẳng nhớ,
để những lệ buồn cánh khô,
rơi rớt từ một cõi mơ,
nghe đất gọi về tiếng ru,
hững hờ.” (Phạm Duy – bđd)


Cõi mơ, hay Nước Trời sau nỗi chết, như thế đó. Là thế đó, có tiếng gọi từ cội đất, Chúa vẫn chờ. Là, “đất cội”. “Tình thơ”. “Vòng tay ôm”. Là, “lá vàng khô”, chí ít là “gò mối” của hồn ta. Chúa vẫn chờ. Ngài chờ, để tình già biến thành nhựa sống. Ngài chờ, cả những cành khô/lá úa, thời buổi trước. Một thời, còn có bon chen tình đời. Quên lãng. Ngài chờ, để “hồn ta như vụt biến, bay vờn trong đời tiên”, rất thơ. Ôi chao! Thần học nào, lại huyền mộng, như lời thơ. Thơ, của nghệ sĩ. Thơ, của Đạo?

Quả thế, Đạo vốn dĩ rất thơ. Những thơ và nhạc. Muôn thời. Muôn thuở. Thuở, có buổi chiều vàng rất trìu mến. Trìu mến, là trọng tâm của thần học Đạo Chúa. Trìu mến, là chủ trương của Đạo. Của Chúa. Bởi, Đạo Chúa, không chủ trương lý và luận, rất trừu tượng. Niết bàn. Đầu thai. Sự sống mới. Sau khi chết. Đạo Chúa, chỉ và vẫn chủ trương sự trìu mến rất thân thương, cả đời này. Lẫn đời sau.

Đạo Chúa, giống như mọi đạo, vẫn chủ trương chuyên chở Tình yêu vĩnh cửu đến với mọi thành viên, rất người. Dù, người ấy còn trăn trở. Ở ngoài Đạo. Dù, người này được gọi là Phật tử, con cháu Đấng Allah, hoặc dân con Đạo Chúa. Cũng như nhau. Đạo của tình trìu mến, được gửi đến với mọi người. Đạo đến, với ước mong sao người người, sống hạnh phúc. Vui tươi. Không tranh cãi. Cũng chẳng nghi ngờ. Húy kỵ.

Do thái xưa, là dân/người Chúa vẫn chọn. Nhưng, Chúa nào chọn/nào thương chỉ mỗi người Do thái? Dù, nay ta có gọi người ấy/dân tộc nọ là Công giáo, Chính Thống, Tin Lành hay Bà La Môn, Phật tử, gì gì nữa. Nếu không, thì người nữ phụ Samari, nào đã được cứu. Nếu không, nào đến lượt Phêrô, Phaolô cùng các thánh, được Ngài gọi.
Có lẽ nên bảo: đã qua rồi, thời của những Pharisêu/Biệt phái/kinh sư vẫn cứ tự hào người mình, dân của Chúa. Có lẽ vì thế, đấng bậc nọ mới chễm chệ ở nguyện đường, mà cầu nguyện. Cầu cho mình, mà thôi. Để rồi, lại quên mất bà goá nhỏ kia, những người be bé sống ngoài Đạo rất chuẩn, mới là người được Chúa đoái thương. Rất nhiều.
Hôm nay đây và mai ngày, chắc rằng Chúa vẫn cứ phải ngang qua nhiều thảm kịch đỏ, về những cách chia, của con dân trong Đạo. Phân biệt. Phân biệt, khi ban phát ơn cứu rỗi. Phân và biệt, ai toàn tòng. Ai ngoại giáo. Ai đáng được cứu. Ai phải ai trái. Ai ở lại. Ai, đi chỗ khác chơi. Mà, phải hiểu rằng: Chúa cứu, Ngài không chỉ cứu mỗi giới Đạo thuần thành, gốc Do Thái. Chúa cứu độ, là Ngài cứu hết mọi người. Không chỉ riêng ai. Dù, là Do thái. Hay dân ngoại.
Nếu thế, cũng đừng hãi sợ khi thấy người khác Đạo/khác tôn giáo nói về Tình yêu/sống lại, ở đời này và đời sau, dù khác ta. Nếu thế, cũng đừng quên rằng, “tứ hải (vẫn) giai huynh đệ”. Vẫn có ý nghĩa, cả niềm tin. Bởi, người khác đạo/khác chính kiến về Đạo, vẫn có thể nói cho ta nghe về Đạo của Chúa. Về Chúa. Nói, tức nhận thức về những khía cạnh rất khác, về các bí tích huyền nhiệm của Đạo. Của Đức Chúa. Họ khác mình, là chỉ khác cung cách diễn tả niềm tin riêng, thôi. Khác, về thực hiện niềm tin ấy. Khác hay không, vẫn như thế. Vẫn là người con, cùng một Tạo Hoá. Ta gọi Chúa.
Thế nên, khi nghe người khác đạo, dù Phật tử hay đạo Hồi cực đoan, nói về niềm tin – yêu giữ đạo, tất cả vẫn dẫn về Thương Đế. Tất cả, vẫn bổ sung/làm giàu niềm tin-yêu ta có, với Chúa. Xem thế thì, người đạo Hồi vẫn tiếp tục tin rằng Thượng Đế mặc khải về Ngài, qua Đấng Allah. Người Công giáo, cũng tiếp tục tin Chúa hiển linh chính mình Ngài, qua Đức Kitô. Cả hai, ta đều kêu cầu Chúa dẫn dắt mỗi người và mọi người về với sự thật. Rất đậm sâu. Rất ý nghĩa.
Vì thế, khi ai mời ta dự buổi nguyện cầu, chung cùng họ. Thì hãy xem đây chính là đặc ân Trên ban, để ta hưởng. Đây, là cơ hội để ta san sẻ đặc ân nguyện cầu. Để, mọi người sẽ hiểu nhau hơn. Yêu nhau hơn. Và, một khi tình thương lan tràn khắp chốn, lúc đó sẽ không có chiến tranh. Không bạo lực. Kình chống. Bao giờ nữa.
Khi đó, khác biệt lại trở thành điểm son, của mọi đạo. Bởi, tuy có khác biệt nơi cung cách nguyện cầu. Nơi phương thế thực hiện niềm tin. Tựu trung, ta vẫn phổ biến khắp nơi, Tình yêu rộng khắp, hết mọi người. Là người dấn bước theo Chúa, ta được gọi mời gặp gỡ người khác đạo. Khác tôn giáo. Nhưng tất cả đều vẫn tin. Tin rằng, tình thương giải quyết, hết mọi sự. Giải quyết cả khác biệt. Của niềm tin. Nơi Đạo. (x. Lm Andrew Hamilton sj, God in other Faiths, bđd, tr, 17-20)
Để làm bằng cho điều nói ở trên, cũng nên tìm đến truyện kể, để minh hoạ. Như sau:

“Truyện kể rằng:
Hôm ấy, có ba vị: một linh mục Công giáo, một mục sư Tin Lành, và vị kia, là thày giảng Do thái giáo, cả ba cùng nhau bước vào tiệm rượu, để thư giãn. Người bán rượu thấy thế, bèn bảo:
-Cái gì thế này? Tiếu lâm chăng?

Tiếu lâm hay không, phải đọc truyện bên dưới, mới rõ. Truyện, là truyện rằng:

“Hai người trẻ tính chuyện đáp lời mời gia nhập Dòng Tên, bèn thưa và hỏi:
-Có gì khác biệt giữa tu sĩ Dòng Tên và Dòng Đa Minh không nhỉ?
-Chẳng có gì khác nhau đâu. Cả hai đều do các vị bên Tây Ban Nha thành lập, thôi. Này nhé, thánh Đa Minh lập dòng thánh cho tu sinh Đa Minh. Còn, thánh Y Nhã lập Dòng cho tu sinh Dòng Tên của Chúa. Cả hai, đều chiến đấu chống bè lũ rất rối. Tu sinh Dòng Đa Minh cũng chống đối bè rối thuộc phái An-bi-gen. Còn, tu sĩ Dòng Tên lại chống đối đoàn người Thệ Phản. Tức, có thề và có phản.
-Vậy thì, có gì khác nhau giữa hai Dòng này đâu?
-Có chứ. Khác là, sau đó cả hai, khi gặp bất cứ người An-bi-gen ở đâu đó, vẫn cứ vui.”


Lời cuối cho em. Cho bạn. Và cho tôi, là: cuối cùng rồi ra, ta cũng gặp nhau, ở đời sau. Cùng một cõi. Dù cõi đó, bạn có gọi là chốn Niết Bàn. Dù chốn đây, ta cứ gọi là thiên đàng, đời sau hết. Cuối cùng thì, điều cần thiết, là: Tình dành cho em. Cho anh. Cho tôi và bạn, là tình Đạo yêu thương.

Trần Ngọc Mười Hai
nay cũng rõ
sự thật đều sáng tỏ.
Để thêm yêu.
Trần Ngọc Mười Hai



THƯ GỞI MẸ
Trầm Thiêm Thu


Mẹ kính yêu,
Làm sao một đứa con trai nói lời cảm ơn khi Mẹ đã mất hơn 20 năm rồi? Con thắc mắc vì con mới đang độ tuổi thanh xuân, giá mà Mẹ biết con rất muốn nói những lời cảm ơn Mẹ về những gì Mẹ đã dành cho con dù lời cảm ơn nghe cũ rích và sáo mòn.

Lớn lên con không nghĩ gì về sự thật là Mẹ chỉ có một tay và một chân, vì Mẹ làm mọi thứ có vẻ quá dễ dàng. Mất chân mất tay có vẻ bình thường đối với con. Hồi nhỏ, con nghĩ không gì khó khi Mẹ thắt dây giày. Con không có chút khái niệm mơ hồ nào về những cố gắng của Mẹ để Mẹ có kỹ năng đó.

Con cũng không nghĩ nhiều về Mẹ khi Mẹ 3 tuổi bị xe điện cán vào chân. Hoặc khoảnh khắc khủng khiếp đó, lúc tài xế cho xe lùi lại thì lại cán đứt tay Mẹ. Con không hiểu nỗi đau mà ông bà ngoại chịu đựng đến mức nào khi thấy con gái mình nằm trơ trọi tên giường bệnh viện.

Sau đó, rồi con mới hiểu những gì Mẹ đã vượt qua. Con bật khóc khi con nghe bà ngoại kể chuyện ông chú tập cho Mẹ bơi sau tai nạn 1 năm. Mẹ nôn nóng chờ đến lúc vào hồ bơi công cộng, sự hăng hái của Mẹ dâng cao thì nhiều người lớn đang tắm đều đổ dồn mắt nhìn Mẹ, còn trẻ con thì chỉ tay vào Mẹ. Mẹ xấu hổ khi ông chú bế Mẹ lên và nói với mọi người: “Hãy nhìn kỹ đi!”. Mẹ còn nhỏ nên không hiểu rằng ông chú đang cố gắng bảo vệ Mẹ. Một thời gian lâu sau Mẹ không dám đi đâu, dù chỉ ra mở cửa, nếu Mẹ không mang tay chân giả.

Con cũng không thể hiểu hết niềm vui mà người ta có khi được nhận phần thưởng dành cho người cụt chân tay. Hẳn là họ phải chiến đấu nhiều để vượt qua chính bản thân.

Dĩ nhiên chỉ là một đứa trẻ nên con không nói đến cô bé khiêu vũ chuyên nghiệp với các chị em khác trên sân khấu ở nhà hát Curran. Con không nhìn Mẹ như một nhạc sĩ thành công ở tuổi 16 và là thành viên ban nhạc giao hưởng San Francisco. Con cũng không nhìn Mẹ như một thiếu niên biết trượt tuyết trên những con đường đèo dốc ở San Francisco.

Cảm ơn Mẹ đã dạy con biết sống noi gương Mẹ. Mẹ dạy con rằng không có gì là không thể nếu con muốn và cố gắng. Lúc này con đang đọc những tình cảm của Mẹ khi con xem bài báo và tấm hình Mẹ chụp tại cuộc thi San Francisco Examiner. Báo đăng hình Mẹ chụp khi Mẹ 16 tuổi, tay phải Mẹ cầm kèn trumpet vừa tươi cười trước ống kính, bài báo trích dẫn lời Mẹ nói lúc đó. Con ghi nhớ lời Mẹ nói và thực hành trong cuộc sống, những lời đó con cũng truyền lại cho các con của con.

Hồi nhỏ, bản tính con bướng bỉnh. Có thể Mẹ không biết điều đó, nhưng bà ngoại luôn nói con chăm sóc Mẹ với lòng kính trọng. Ngoại kể rằng hồi nhỏ Mẹ mang chân giả đi trượt tuyết bị chảy máu chân nhưng Mẹ không kêu than, không sợ gì, không kêu đau khi ngoại chùi máu khô trên vết xước ở chân Mẹ. Rồi Mẹ lại tiếp tục trượt tuyết. Không gì có thể cản bước Mẹ!

Sinh nhật thứ 20 của Mẹ, lúc ngoại tặng Mẹ chiếc kèn trumpet đầu tiên, Mẹ không biết Mẹ sẽ truyền vào con trai Mẹ niềm đam mê âm nhạc và dương cầm. Mẹ luôn nói với con rằng nếu người lái xe không lùi xe lại thì hẳn là Mẹ không là người biết chơi dương cầm. Nhưng mãi tới lúc con là một thiếu niên thì Mẹ mới nói với con điều đó. Con đoán là Mẹ không muốn làm con ảnh hưởng. Nhưng khi con quyết định học đàn thì Mẹ không để con nản chí. Mẹ ngồi trên chiếc ghế gần con để sửa từng nhịp phách và câu nhạc cho con, nhiều lần Mẹ làm cho việc học đàn trở thành niềm vui, nhưng không được bỏ cuộc.

Đời Mẹ không bao giờ đầu hàng bất kỳ thứ gì và cũng không để con trai Mẹ bỏ cuộc. Mẹ nói với con rằng biết chơi dương cầm luôn là điều giúp con thư giãn khi gặp khó khăn trong đời. Con tin rằng tài năng có lợi cho cuộc sống. Chính dương cầm đã góp phần giúp con cưới được vợ con bây giờ. Vì vậy, Mẹ ơi, con xin cảm ơn Mẹ một lần nữa. Có thể Mẹ không nhận ra điều đó, nhưng khi những gì con cố gắng mà rất khó khăn thì con luôn nghĩ đến những khó khăn mà Mẹ đã biến thành chiến thắng trong đời Mẹ. Con thật ngu xuẩn khi than phiền về những khó khăn!

Khi con gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm (Army Special Forces), việc huấn luyện nghiêm nhặt và khắt khe, nhiều lần con đã muốn bỏ cuộc. Nhưng lúc đó con lại nhớ đến tấm hình Mẹ chụp lúc Mẹ 16 tuổi, tay cầm kèn trumpet và trả lời phỏng vấn báo chí: “Không có gì là không thể nếu người ta muốn và cố gắng hết mình”.

Mẹ ơi, con vững niềm hy vọng, lúc Chúa cho Mẹ con còn sống bên nhau, Mẹ nhận biết Mẹ có ý nghĩa đối với con thế nào, con vô cùng biết ơn Mẹ về những gì Mẹ dạy bảo con, và con yêu Mẹ biết bao vì Mẹ là Mẹ của con.

Con cảm ơn Mẹ chân thành từ đáy lòng con.
Con trai của Mẹ,
Thomas
Trầm Thiêm Thu (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)


Tôi

Đàn Giản


Bé qùy ngay hàng ghế đầu cùng với Cha dâng lễ mà không có bố mẹ ngồi bên. Chung quanh Bé chỉ có bạn cùng lớp Vỡ Lòng 1 và cô giáo. Những Chúa Nhật trước, bé đi lễ với Ba Mẹ, ngồi tuốt nơi những hàng ghế sau cùng, bé chỉ thấy toàn người là người. Người lớn che mắt bé, bé không nhìn thấy Chúa.

Hôm nay ngồi đây, bé nhìn thấy rõ Chúa.
• Chúa ơi, sao Chúa đi nhà thờ mà Chúa không mặc quần áo đẹp?
• Chúa ơi, sao Chúa bị đóng đinh vào cây gỗ? Đau không Chúa? Đau lắm phải không Chúa?

Hôm bữa bé nghịch, bị cây thước đập vào tay, bé đã khóc inh ỏi. Bà ngoại bảo Chúa bị đóng đinh vào tay vào chân. Chúa ơi, đau lắm, bé ứa nước mắt. Ai trong nhà bé cũng nói yêu Chúa, cô giáo dậy bé yêu Chúa, Cha cũng bảo phải yêu Chúa, vậy mà không ai chiụ tháo Chúa xuống.

Người ta chỉ đứng nhìn. Họ nhìn Chúa bị đóng đanh một cách say mê , có người còn khóc nữa cơ, vậy mà không ai chiụ tháo Chúa xuống. Bé chỉ thấy có một mình Đức Mẹ ôm Chúa đã được tháo xuống, chỉ có một mình Đức Mẹ.

Xong lễ, Cha chúc mọi người đi bình an, ai nấy ra về vui vẻ. Hình như người ta thích đến nhìn Chúa bị đóng đinh rồi hoan hỉ ra về, chẳng ai tháo Chúa xuống, Cha gần Chúa nhất cũng không chịu tháo Chúa xuống. Bé thương Chúa qúa. Bé muốn đưa Chúa xuống khỏi cây thập tự qúa.

Ánh mắt Chúa trên cao chạm mắt bé, Chúa giang tay ôm lấy bé. Mái tóc dịu dàng, vầng trán thơ ngây, đôi má bụ bẫm của bé chạm vào vết thương trên tay, bên sườn Chúa làm Chúa hết đau. Chúa ôm chặt lấy bé. Chúa muốn ôm bé hoài để những cơn đau xé thịt của Chúa tiêu tan.

Bố Mẹ đi vắng, chỉ còn bà ngọai đang bận rộn trong bếp. Bé đứng gần bàn thờ, Bé nhìn lên Chúa. Chúa nhà bé cũng bị đóng đinh, đau lắm. Mắt bé gặp mắt Chúa. Bé thấy ánh mắt Chúa sáng lên vui qúa. Bé reo lên khe khẽ: “ Chờ con một chút”. Bé chỉ cần kê một cái ghế, đứng lên, là đem được Chúa xuống. Bé tìm được cái screwdriver ba để trong tủ, bé luồn cây nậy vào sau lưng Chúa. Bé nạy. Chắc quá. Quân dữ đóng đanh Chúa chắc quá. Bé nạy mãi không được, Bé tức, bé đập cây nạy rầm rầm trên sàn.

Bà ngoại nghe bé la chạy ra hỏi:
• “Tại sao con dám đem chúa xuống? Tại sao con dám phá tượng Chúa, con hư qúa.”
Bé ôm lấy bà, oà khóc:
• “Không. Con chỉ muốn tháo Chúa ra . Chúa bị đóng đanh đau lắm”.
Bà ngoại thương bé lắm. Bà ôm bé:
• “Không đâu con ơi, Chúa bị quân đữ đóng đanh mà. Để Chúa trên bàn thờ lại đi con”.
Bé khóc thét lên, bé dẫy dụa nằng nặc đòi tháo Chúa ra:
• “Chúa đau lắm bà ơi”.
Bà đưa bé đi rửa mặt. Bà dỗ bé:
• “Con dở hơi quá mà. Chúa bị quân dữ đóng đanh từ mấy ngàn năm trước kìa, bây giờ Chúa đâu có bị nữa.
Bé cãi lại bà:
• “Đâu phải thế đâu, ở đâu con cũng thấy Chúa bị đóng đanh vậy mà”
Mặc lời giải thích của bà, bé vẫn không hiểu, bé vẫn nhất định đòi tháo Chúa ở trong nhà bé xuống. Cả nhà bàn nhau. Ba bé lấy cái thang, treo Chúa lên tuốt trên cao:
• “Không được mang Chúa ra chơi thế nữa nha, tội chết” Bà dịu dàng bảo bé.


Lên lớp vỡ lòng 2, các thày cô xếp chỗ lớp bé ngồi xa bàn thờ. Chỗ gần bàn thờ dành cho các em bé hơn. Bé vẫn thấy những cái đinh to tướng đóng vào tay, chân Chúa, nhưng vẻ đau khổ trên mặt Chúa bé không nhìn rõ nữa. Bé vẫn mong Chúa được tháo khỏi cây gỗ mà người lớn gọi là cây thánh gía.

Chúa vẫn ôm bé vào lòng. Bây giờ mỗi lần ôm bé, Chúa còn chạm vào mấy viên bi bé lén mẹ bỏ trong túi mà thỉnh thoảng trong giờ lễ, bé vẫn thọc tay vào túi quần mân mê. Chúa cảm thấy vui vui khi những viên bi chạm vào các vết thương của Chúa, Chúa rủ bé chơi bắn bi. Chúa bắn bi dở hơn bé vì tay Chúa đau lắm.

Mỗi lần lên lớp, người ta lại xếp bé ngồi xa Chúa hơn. Tại sao càng lớn, người ta lại xếp cho mình ngồi xa Chúa hơn? Những cái đinh đóng Chúa trên thánh gía càng khó thấy rõ, những vết đau khổ trên mặt Chúa mờ dần dần đi. Bé bây giờ ít nhìn lên Chúa. Hình ảnh đó quen rồi, Bé thích nhìn những tấm hình màu bạn bè lén mang vào nhà thờ, Bé thích xù xì nói chuyện với bạn bè. Chúa ôm bé, bé cũng không để ý.

Bé học lớp cuối, lớp chuẩn bị thêm sức, Bé không còn là bé nữa, Bé được gọi là anh. Lớp của anh xếp hàng sau cùng khi vào nhà thờ dâng thánh lễ. Anh ngồi xa bàn thánh nhất, xa Chúa nhất . Anh thỉnh thoảng mới nhìn lên Chúa bị treo tuốt trên cao, xa, xa lắm. Anh thích thì thầm với mấy chị bên cạnh, khoe nhau cái cell phone, kiểu tóc mới và đủ thứ linh tinh. Chúa vẫn ôm anh, Chúa hôn trên mái tóc highlight của anh. Chúa khen kiểu cell phone càng ngày càng đẹp nhưng Chúa không cần nó. Chúa thích anh đến cạnh Chúa thì thầm vào tai Chúa hơn. Chúa thích cầm lá thơ thơm mùi giấy anh viết cho Chúa hơn là đọc email.

Ngày anh được thêm sức. Cha xứ giảng là từ nay anh, chị trở thành người có trách nhiệm với cộng đồng dân Chúa, với cộng đồng giáo xứ. Anh hãnh diện vì điều Cha nói. Anh lại càng vui hơn vì sau Chúa Nhật Sức Dầu, anh không còn phải đi học giáo lý nữa. Anh đến nhà thờ không phải xếp hàng. Anh vứt chiếc áo đồng phục ở nhà : “Một kỷ niệm!”, Anh đến nhà thờ như … một số người lớn.

Anh không còn thấy Chúa bị đóng đinh trong nhà thờ. Chúa bị che khuất bởi bức tường ngăn . Chúa ở khắp mọi nơi mà, đứng đâu chả được!
• “Con còn đi nhà thờ là may cho Chúa lắm rồi. Con đứng xa nhất trong nhà thờ nhưng con có bỏ lễ, bỏ Chúa đâu? Nhà riêng của con cũng có hình Chúa treo trên thập tự. Chúa yên trí đi, con sẽ để thánh gía Chúa thật cao, như thế mấy đứa con ngốc nghếch, thơ ngây của con sẽ không phá Chúa được”

******
Thế rồi ngày đó cũng đến với tôi. Ngày người ta đưa tôi lại gần Chúa, lại rất gần Chúa. Tôi chưa được gần Chúa như thế bao giờ, Chúa thấy tôi đến gần, Ngài thương lắm, Ngài vòng tay ôm lấy tôi, Ngài ôm chặt lấy tôi như hồi tôi còn bé, Tôi chợt thấy nước mắt ứa ra trong mắt Ngài, tôi thấy Ngài đau đớn qúa . Tôi nhớ lại, tôi phải tháo đinh cho Chúa, nhưng tôi kịp nhận ra Chúa đau vì những gai góc tôi tự cuốn trên mình tôi trong suốt cuộc sống tôi lăn lộn với đời đang đâm vào Chúa. Chúa càng ôm tôi âu yếm, gai góc của tôi càng đâm sâu hơn, chặt hơn vào da thịt Người. Tôi đang đóng đanh Chúa chặt hơn.

Tôi hé mắt nhìn ra quan tài, những em bé bằng tuổi tôi ngày xưa đang tha thiết nhìn lên tượng chiụ nạn, chúng đang mong tháo Chúa ra khỏi cây thập tự.

(Tặng bà ngoại củaThục Đoan,Thục,Anh&Hạo Nhiên)
Mùa Đông, Minnesota 2009
Đàn Giản.



TIẾNG CHUÔNG CỦA GIÓ

An Thiện Minh


Người ta không rõ bà lão sống dưới chân núi này đã bao lâu; nhưng cứ thấy làn khói trắng nhẹ nhàng toả bay vào độ mỗi chiều, người ta biết bà lão vẫn còn tồn tại.
Bà lão có một thói quen cố hữu là chỉ nhóm bếp một lần trong ngày khi nghe tiếng chuông ngân. Tiếng chuông cũng rất lạ chỉ vang vào mỗi chiều về, ngoài ra chẳng có một âm thanh nào khác. Bà lão không biết tiếng chuông đến từ đâu nhưng âm vọng của tiếng chuông mỗi ngày đều làm cho bà cảm nhận ý nghĩa thanh thoát của thực tại, đưa trái tim vào miền cổ tích an nhiên. Có lẽ tiếng chuông biết rõ bà lão nên bao giờ âm thanh của nó cũng mang đến cho bà một sự thư thái của đất trời. Bà lão và tiếng chuông như có sự nối kết mật thiết không thể lý giải.

Từ khi có tiếng chuông, cái bếp nhỏ nguội lạnh của bà lão lại đỏ lửa, cánh võng lại đong đưa theo nhịp ru của gió. Mỗi chiều, bà lão lại thắp lửa hồng trong tàn tro, cho gió mang tiếng chuông về ấm áp, cho trái tim bà lão bay lên theo làn khói hoà quyện trọn vẹn vào tiếng chuông.
Rồi cứ thế mỗi chiều chờ đợi là cuộc sống lại thở thêm một làn hương thanh cao hy vọng. Tiếng chuông mỗi chiều ấm áp đủ để đưa bà lão vượt qua đêm dài cô tịch, nơi tĩnh lặng chỉ có mây và gió, nơi mà hiếm ai muốn đặt chân đến, dù đôi lúc chỉ là một ý niệm vu vơ thoảng qua.

Có một chiều như mỗi chiều, tiếng chuông theo gió thả mình qua bao triền núi đọng lại giữa chái bếp trống trải của bà lão. Đúng lúc đang để lòng ấm lại theo tiếng chuông, bà lão chợt nghe một âm vang khác lạ trong ngần từ một quả thạch lựu trong vườn rơi xuống. Hàng ngàn hạt lựu nho nhỏ, trong suốt và trắng hồng rơi ra từ lớp vỏ xù xì. Bà lão ngẩn ngơ nhìn cái đẹp thuần khiết chưa bao giờ thấy trong đời, dù bà đã đi qua không biết bao nhiêu con đường của thời gian. Những điều ngày xưa bình dị, hôm nay đã trở thành ánh sáng của nét đẹp thanh cao. Bà lão không hiểu có phải âm thanh lạ lẫm của tiếng chuông hay là vì cơn gió đã đánh động quả thạch lựu, để tỏ cho bà vẻ đẹp tuyệt tác của thiên nhiên. Bà lão chiêm ngắm và tận hưởng vẻ đẹp kỳ bí đó đến nỗi tiếng chuông hôm nay ngân mãi điệu nhạc niềm vui và bếp lửa mỉm cười reo tí tách.

Từ dạo ấy, tiếng chuông vang lên thật hay vào mọi lúc khiến chân trời rộn rã tơ vương. Từng đám mây trắng nhẹ nhàng kéo về, ôm lấy trọn vẹn ngôi nhà nhỏ như nâng lên bềnh bồng trong sâu thẳm.

Tiếng chuông không còn văng vẳng nơi xa xăm nhưng vang lên từ ngôi nhà thanh tịnh của bà lão. Gió đã thổi nhẹ làn hương vào trái tim cho ngân lên tiếng thánh thót khao khát Chân Thiện và âm vang đó không bao giờ ngừng trên con đường đi tìm Cái Đẹp.

Sự khai sáng tâm linh đã bừng nở và đó là tiếng chuông của Gió.

Mùa Chay Thánh 02/03/2001
An Thiện Minh



CHUYỆN VỀ EM

Sông La


Tôi gặp em với một thân thể tiều tụy, gầy ốm xanh xao, da xám xịt.

Nhưng trong đôi mắt em vẫn ánh lên niềm hy vọng mong manh: “Mình sẽ được điều trị hết bệnh”

Em vẫn ngây thơ với căn bệnh thế kỷ HIV AIDS, em vẫn ngỡ ngàng quá đỗi.

Tôi xót xa cho em. 24 tuổi đầu mà đã 10 năm bước vào đời sống như vợ chồng với người bạn trai hơn em 11 tuổi. Em quen, em gật đầu trao gởi trái cấm của mình cho chàng, một chàng trai đang bị lệ thuộc vào nàng tiên nâu. 14 tuổi đầu em có biết gì đâu,cha mẹ cấm cản, em trốn học đi chơi cùng chàng. Tuổi thơ em, bồng bột, tình yêu đầu đời đơm bông nở nhụy lại mang đến cho em một kết quả như là định mệnh. Chính em đang rơi vào một thảm hoạ, một khoảng không vô định, nỗi sợ hãi của tất cả mọi người.

Em, cô gái trẻ kể tiếp câu chuyện dài về mình:

“Em vừa mới nằm viện ra, khi nằm trên giường bệnh, trên mình đắp 1 tấm ra trắng không quần áo(vì em đang ở phòng chăm sóc đặc biệt) mắt đăm đắm nhìn lên trần nhà mà thốt lên rằng lạy Trời, nếu có ông trời thật, xin đến cứu giúp con, con đang đơn độc và con sợ chết. Nỗi sợ hãi cộng hưởng với những cơn sốt co giật hành hạ, thân thể rã rời, bộ phận sd đau rát, chảy máu. Tất
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2000
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 20.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(Chuyện Về em tiếp theo}

.....Tất cả như đang gậm nhấm dần mòn thân xác em. Em tuyệt vọng, em muốn chết. Nhưng tình yêu, sự chăm sóc của ba mẹ và gia đình và đựơc gặp cô, được mọi người gần gũi, em chợt nhận ra rằng có ông Trời thật. Chính ông Trời đã đưa mọi người đến với em và ban sức mạnh của tình yêu để em có nghị lực vượt qua nỗi đau này. Thật sự em không ngờ em đang mang một căn bệnh nan y. Nếu được phục hồi sức khoẻ em sẽ đi giúp các bạn giống như em”.

Tâm sự cùng em, với nỗi niềm chia sẽ, tôi thấy rõ nỗi tuyệt vọng chứa chấp khi em khám phá ra mình đang sống chung với căn bệnh HIV AIDS. Nhưng trong em cũng gợi lên niềm an ủi đầy tình người với câu khẩu hiệu: “Không được khì thị người bị nhiễm HIV AIDS, không đẩy họ vào bước đường cùng”.

Nhưng cao hơn nữa từ lời tâm sự chia sẽ của em tôi như thấy và xác tín hơn nữa về một thực tại lớn lao là chính em, người bệnh được tình yêu thương xoa diệu và em cũng muốn bước vào, được dẫn vào quĩ đạo yêu thương.

Vẫn rủ rĩ chân tình em nói tiếp: “Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình, muốn nói chuyện hoặc trao đổi với nhau hoặc bàn bạc với nhau chuyện gì chỉ thông qua diện thoại hay 1 mảnh giấy viết vội trên bàn. Không có 1 bữa ăn quy tụ trong gia đình. Ba mẹ đi làm suốt ngày, sáng phát tiền, tháng phát tiền. Đi học thì có xe ôm đưa rước. Muốn ăn cơm chỉ cần ra tiệm búng tay khắc có cơm, có nước. Em bé không có chỉ chơi với búp bê, choi với những vật vô tri vô giác. Khát vọng được yêu, được ôm ấp, được nghe lời nói ngọt ngào,dược cãm thông của một mái ấm.

Nỗi niềm ấy luôn đốt cháy em, em đã gặp anh ấy, dù biết rằng anh ấy có sử dụng ma tuý, em vẫn yêu, yêu dại khờ, nhưng anh đã đáp ứng được khát mong của em. Nói thật với cô em chỉ thích được nằm bên anh, nói chuyện rủ rĩ cùng anh, được anh thông cảm, chia sẽ vui buồn, em thấy ấm lòng lắm. Còn chuyện đó em cũng chẳng thích đâu”. Lời chia sẽ của em có giúp ta nhìn lại thực tại của những mái ấm gia đình, tổ ấm yêu thương, bữa cơm đầm ấm sau một ngày làm việc mệt nhọc. Phải chăng chúng ta những bậc làm cha làm mẹ có thật sự chia sẻ cảm thông, gần gũi với con cái mình là những người trẻ đang phải sống hội nhập với thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá. Phải chăng những hậu hoạ khó lường của các bạn trẻ đang mang căn bệnh thế kỷ trong đó người lớn cũng phải nhìn lại trách nhiệm của chính mình.

Câu chuyện của một em gái nhỏ hôm nay gợi lên trong tôi một suy tư lớn, chúng ta hôm nay, xã hội ngày mai. Sự lành mạnh, sức khoẻ, kinh tế, tiềm năng, luân lý,công, dung, ngôn, hạnh, … phải chăng sẽ phụ thuộc vào nôi nhỏ hạnh phúc gia đình.

Sông La


ĐƯỜNG EM CÓ ĐI, HẰNG ĐÊM BƯỚC QUA

Nở những đoá thơ, ôi dị kỳ (Phạm Duy – Đường em đi)
Trần Ngọc Mười Hai
(Mt 28: 18-20)


Đường em đi, sao cứ nở những thơ/hoa. Dị kỳ. Kể cũng lạ. Lạ hơn nữa, hoa /thơ ở đây lại chỉ nở về đêm. Rất êm đềm. Có,”Em” bước qua.

Hẳn là, ban ngày/ban mặt nào đâu thấy những là “bước từng bước chân”. Rất âm thầm. Đầy nhịp sống. Có thơ, và có nhạc. Để, người em/người chị của chúng ta cứ thế, mà bước qua. Có cả anh/cả bạn sẽ cùng tôi đồng hành, ta tiến bước. Bước, hằng ngày. Đi, hằng đêm. Bước và đi, để nói lên rằng: đường tôi đang đi/đường bạn đang bước cũng rộ cũng nở, những hoa/thơ. Và nhạc, rất mến thương. Tình yêu đương. Ôi, da diết.

Đường bạn và đường tôi đi hôm nay, đầy Lời của Chúa. Êm đềm. Mật thiết. Rất như sau:

”Vậy, các ngươi hãy đi
mà thâu nạp muôn dân,
thanh tẩy họ
nhân Danh Cha, Con và Thánh thần,
dạy họ giữ hết mọi điều
Ta truyền cho các ngươi.”
(Mt 28: 18-20)


Con dân nhà Đạo, nay cứ bước và cứ đi, mà sống Đạo. Đi, để “thâu nạp” dân con mọi người. Đi, để nói với người chưa biết Chúa. Biết Mẹ. Điều Ngài dạy, như lời nghệ sĩ khi xưa hát:

“Đường êm có khi, chờ em bước qua,
là nghiêng giấc mơ.
Ước thề.”
(Phạm Duy-bđd)


Đường “em” đi, không là giấc mơ. Có ước thề. Đôi lúc vẫn là:

“Đường, dìu ngang bao ngõ đắng cay,
dừng chân phút giây. Xong chia lià.
Dường, dài thêm bao nỗi éo le,
dài thêm nắng mưa. Thêm ề chề.”
(Phạm Duy – bđd)


Vâng. Đúng thế. Ngõ đắng cay, bên đường. Là như thế. Đường ta đi theo Chúa, cũng rất đắng và rất cay, tợ như thế. Nhiều lúc đã đắng cay, rồi cũng éo le. Ê chề. Vì “dài thêm nắng mưa”. Vì, rụng rơi. Vướng mây tóc ngà. Nhiều thứ. Những thứ, những điều khiến tôi và bạn cứ khựng lại. Và khó đi. Bởi, vẫn cứ nắng/mưa. Lưa thưa, ba khúc mắc. Giữa đường. Lắm khi còn điểm vài ba chuyện ly kỳ. Đầy thắc mắc. Như truyện kể, ở ngay dưới:

“Truyện rằng:

Một hôm một người đàn ông trông thấy một lão bà đang ở bên chiếc xe bị ‘nạn’, bên đường. Trời sẩm tối, anh vẫn thấy bà như cần được giúp đỡ. Vì thế, anh tấp xe vào lề đậu phía trước xe của bà, rồi bước xuống. Chiếc xe cũ của anh vẫn để nổ máy khi anh đến gần trước mặt bà. Anh mỉm cười đến gần, nhưng bà lão tỏ vẻ lo âu. Người đàn ông nhận ra là cụ bà vẫn còn vẻ sợ hãi, đứng cạnh chiếc xe, giữa trời lạnh. Anh muốn trấn áp nỗi lo sợ của cụ bà, nên mới nói :

• Thưa bà, tôi đến đây là để giúp bà mà thôi. Bà nên vào bên trong ngồi cho ấm. Luôn tiện, tôi tự giới thiệu tôi tên Bryan Anderson.”

Thật ra, xe của cụ bà chỉ bị mỗi chuyện là một bánh bị xẹp. Nhưng với bà, nó cũng đủ gây phiền não rồi. Bryan bèn bò xuống dưới gầm xe tìm chỗ để con đội. Sơ ý, cũng bị trầy da ở bàn tay. Chẳng bao lâu, anh đã thay xong bánh xe cho cụ bà. Nhưng tay anh bị dơ và có hơi đau rát.

Khi anh siết ốc bánh xe, cụ bà quay kính xe xuống và bắt đầu kể cho anh biết là: bà vừa từ St. Louis đến. Và chỉ mới đi được có một đoạn đường. Bà không biết cách nào để cám ơn anh cho đủ, về việc anh đã dừng lại và giúp đỡ. Bryan chỉ mỉm cười khi hoàn tất động tác cuối là đóng nắp thùng xe của bà. Cụ bà thắc mắc không biết phải đền dáp công ơn của anh là bao nhiêu. Bryan nói: đây không phải là nghề của anh. Và, anh chỉ muốn giúp những người cần được giúp. Và, có Chúa biết là rất nhiều người từng ra tay giúp đỡ anh, trong thời gian qua. Anh vẫn sống như thế, cả đời mình. Và chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm chuyện nhận tiền của ai, khi giúp đỡ.

Anh nói với cụ: nếu bà thật sự muốn trả ơn cho anh thì lần khác khi bà biết ai cần được giúp đỡ thì bà cứ ra tay giùm giúp và lúc ấy “hãy nghĩ đến tôi!”

Anh chờ cho cụ bà nổ máy xe đi, mới bắt đầu về nhà. Hôm ấy, trời ảm đạm và đổ lạnh. Nhưng anh lại thấy thoải mái khi về nhà.

Cụ bà chạy được vài dặm, thấy có tiệm ăn, cụ bèn ghé lại để tìm cái gì ăn cho đỡ lạnh, trước khi về. Nhà hàng mà cụ ghé, trông không được thanh lịch cho lắm. Bên ngoài, là hai cột bơm xăng rất cũ. Cảnh vật thật xa lạ, đối với cụ. Chị hầu bàn bước đến chỗ bà ngồi, đưa cho bà một khăn sạch để bà lau tóc ướt. Chị mỉm cười vui vẻ với bà dù phải đứng suốt ngày, để tiếp khách. Cụ bà để ý thấy chị hầu bàn này có thai chừng như khá lớn nhưng không thấy chị tỏ lộ căng thẳng hoặc đớn đau.

Bà cụ thắc mắc tự hỏi: tại sao khi cho, dù có ít, người ta vẫn cho cả những người lạ mặt từ nơi xa lạ đến. Không cần biết. Nghĩ rồi, cụ chợt nhớ đến anh Bryan lúc nãy.

Ăn xong, cụ bà trả tiền bằng tờ giấy một trăm đô. Chị hầu bàn mau mắn đi lấy tiền thối. Nhưng cụ bà đã cố ý bước nhanh ra khỏi cửa. Lúc chị hầu bàn trở lại thì bà cụ đã đi mất. Chị thắc mắc không biết là giờ này cụ đi đâu. Nhìn lại trên bàn, chị để ý thấy dòng chữ viết trên chiếc khăn giấy lau miệng, có giòng chữ viết :

• « Cô không nợ tôi gì cả. Tôi cũng ở tình cảnh như cô thôi. Có ai đó, đã giúp tôi giống như tôi đang giúp cô. Muốn trả ơn, tôi đề nghị: Ðừng để chuỗi tình yêu thương này kết thúc nơi cô. »

Bên dưới tấm khăn giấy lau miệng bà cụ còn lót tặng thêm bốn tờ giấy 100.
Tối hôm đó, đi làm về chị hầu bàn vẫn suy nghĩ nhiều về số tiền lớn và những gì bà cụ nọ đã để lại. Làm thế nào cụ biết là chị và chồng chị đang cần số tiền ấy? Bởi, tình hình của chị sẽ khó khăn, khi sanh con vào tháng tới....

Chị biết chồng mình đang rất lo, nên đã thầm thì rót vào tai anh

- ‘Mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả thôi, anh ạ. Em thương anh lắm, hỡi Bryan Anderson

Con đường tình “em” đi. “Mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả thôi”. Nếu “em” và tôi, ta xây dựng tình. Cho đẹp. Cho mọi người. Ở mọi nơi. Đừng dựng xây cuộc sống, cho riêng mình. Như người nghệ sĩ khi xưa vẫn hát:


“Đường em cứ đi, tình ta cứ xây,
Chờ em thoát thai, quay đường về.
Đường quanh khúc co, nhịp chân trói vo,
đường duyên ấm vui, đường mơ…”
(Phạm Duy – bđd)


Đường, “em” đi. Hãy cứ đi. Dù, đường đó có là đường trần. Chờ thoát thai. Hay, đường dài. Về muôn lối. Đường nhà Đạo cũng thế. Có “em” đi. Cũng đi, như hành trình kiếm tìm dựng xây một tình thương. Thương tình. Rất đùm bọc. Dọc đường đời, có “em” và tôi, ta gặp rất nhiều người. Nhiều khuôn mặt rất lừng danh. Nổi tiếng. Hạnh phúc. Những hạnh và phúc Chúa gửi, rất thân thương. Vẫn thấy có, trong/ngoài nhà Đạo. Ở Nước Trời. Nhiều lo lắng. Gặp, không chỉ mỗi diện mạo/khuôn mặt, thôi. Nhưng, còn gặp tình tự thân thương. Đậm nét. Rất sâu sắc.
Đây, người nhà Đạo có danh/có phận. Say sưa. Hưng phấn. Vẫn cứ sống, đời mục tử/chủ chăn, nhiều đắn đo. Suy nghĩ. Nghĩ và suy, tuy không lạ, cũng cũng dễ:

“Tôi đến học, những bốn trường do các linh mục, tu sĩ và giáo dân hợp tác dạy dỗ ở vùng Riverview, chịu ảnh hưởng đặc biệt từ các bậc thầy, ở đây. Tất cả, đã tạo niềm phấn khởi nơi tôi, ngay từ lúc còn trẻ. Và các vị đã hiến trọn đời mình cho Chúa. Cho dân Ngài. Các linh mục/tu sĩ nam nữ đều có đời sống chuyên tu. Hạnh phúc. Đây là niềm khích lệ lớn - hữu hiệu nhất khiến ơn gọi làm con Chúa, nên khởi sắc. Sau khi gia nhập Dòng thánh Đa Minh đạt chức linh mục, và giám mục, tôi vẫn ra đi tìm gặp các tu sĩ/giáo dân, ở rất gần.

Suốt thời gian nhiều thập niên, mọi người trong cộng đồng dân Chúa vẫn trải qua nhiều tháng ngày cam go. Vất vả. Có suy sụp trong ơn gọi. Cũng tục hoá, nhiều địa hạt. Có sách-nhiễu tình dục, rất buồn đau. Trong hành trình phục vụ, tôi vẫn gặp nhiều giáo dân. Linh mục. Tu sĩ. Và cả Giám mục. Đã xả thân, dâng đời mình cho Chúa. Và, dân Ngài. Nên, hạnh phúc!” (x. Sharyn McCowen, “Formed as a teacher, preacher and pastor”, bài phỏng vấn Gm Anthony Fisher, Parramatta, NSW, The Catholic Weekly 07/03/10 tr. 2)

Lời nhà Đạo, nhẹ là thế. Lời người thường, ở đời. Sẽ ra sao? Rất đa dạng. Mỗi người một ý. Ý sâu sắc. Đậm đặc. Một kiếm tìm. Tìm tình yêu. Hạnh phúc. Như lời trích dẫn của người mang tên Hồng Quang, ở trên mạng. Như sau:

“Hạnh phúc là chân lý tối thượng của cuộc sống. Là cái, mà mọi người trong thâm tâm, dù ý thức hay vô thức, vẫn cứ tìm. Và nhân loại vẫn tìm mãi từ nhiều năm. Nhiều thế hệ. Những kiếp người. Vẫn ngẩn người ra mà ngạc nhiên. Đột nhiên, có một ngày người người sẽ hỏi: “Này ông/bạn! Hạnh phúc chứ?”

Hôm nay, câu hỏi nghe hơi lạ. Bởi, cuộc sống không cho phép ta tra vấn kiểu như thế. Hạnh phúc là gì, mà sao ta cứ phải viết hàng đống sách, chuyên về nó. Cứ giảng và thuyết mãi, về nó? Cứ lên đường tìm nó rồi lại hỏi những câu nói khá lẩm cẩm?” (x. Hồng Quang, Câu Chuyện Phụ Nữ: Lời thì thào của hạnh phúc, Calitoday.com 08.03.2010)

Thế đó, là ý nghĩ. Của dân thường. Ở huyện. Cũng nên thêm vào đây, lời người nghệ sĩ họ Từ, từng phát hiện về đời người. Kha khá buồn, như sau:

“…Trong đời sống, nỗi buồn bao giờ cũng dai dẳng hơn niềm vui. Sau niềm vui, nỗi buồn thường đọng lại… Mỗi người trong ta, ai cũng trải qua những dòng thời gian mang nhiều nỗi truân chuyên. Mỗi người đều có nỗi buồn riêng, nhưng tựu chung nỗi buồn của con người trong đời sống, lại quá nhiều.” (x. NS Từ Công Phụng: Như mọi người, tôi cũng có trái tim mẫn cảm 28/2/10)

Vui buồn. Hạnh phúc. Khổ đau. Đó, là hình ảnh một đời người. Hình và ảnh, về đời mình. Vẫn cung cách kiếm tìm hạnh phúc. Rất bận tâm. Theo ngôn từ nhà Đạo, hạnh phúc đồng nghĩa và hành trình kiếm tìm tình yêu. Có niềm tin, Chúa hiện diện. Nói các khác, kiếm tìm - gặp gỡ Chúa, là giáp mặt với Tình Yêu. Hạnh phúc. Tình yêu ấy. Hạnh phúc ấy, vẫn đến với con người. Trong đời. Chí ít, ở Nước Trời. Nơi trần thế.
Cuối cùng, vấn đề còn tùy chọn lựa. Của mỗi người. Tùy, cung cách mọi người tìm kiếm. Tìm Tình yêu. Kiếm Chúa Trời. Bởi, chính Chúa là Tình Yêu. Tình Ngài vẫn tồn tại. Cứ kéo dài. Khác chăng, chỉ vì mình chưa gặp. Hoặc chưa tìm. Có thế thôi.
Hạnh Phúc. Tình Yêu. Mỗi người tìm một cách. Mỗi người nhìn mỗi kiểu. Có kiểu, của người đời. Rất sành sõi. Có kiểu của nhà Đạo, khá độc đáo. Đạo hạnh. Hạnh đạo, như lời đấng bậc từng trải vẫn đoan chắc một khẳng định. Rất như sau:

“Người ta nói: Ngày nay Chúa Thánh Thần hoạt động nơi giáo dân hơn giáo sĩ. Không biết có đúng không. Nhưng có hiện tượng như thế. Trong xã hội, người ta lấy dân làm gốc. Trong Đạo vào lúc này, giáo dân được ơn Chúa soi sáng thúc đẩy hơn giáo sĩ. Ngoài Bắc, thấy cha xứ thiếu tư cách, giáo dân kiện lên Bề Trên, tẩy chay cha. Không đi lễ. Hoặc, nhắm mắt nói: ‘Cha có tội mặc kệ cha, mình chỉ tin Chúa’. Thái độ thụ động, chịu đựng thành thói quen trong chế độ, cả trong miền Nam. Ở miền Nam, họ đánh linh mục, đuổi linh mục như ở Hoàng Mai, Xóm Mới, Tân Sa Châu. Giáo quyền đóng cửa nhà thờ, giáo dân đành thiệt phận.

Một định giá xem ra có vẻ ngạo mạn, là: giáo dân tốt hơn linh mục. Linh mục hơn Giám mục. Điều đó, có thể chứng minh trong việc phong thánh. Giới nào vững vàng nhất. Ở trong tù, thường là thế này: giáo dân hơn tu sĩ. Tu sĩ hơn linh mục. Trong những vấn đề khó khăn: giáo dân vững vàng, linh mục nhẹ nhàng, Giám mục im tiếng, hoặc xuê xoa.” (x. Hồi ký Đức Cố Giám Mục Lê Đắc Trọng, Hiện tình tôn giáo sau năm 1975 www.catholic.org.tw/vntaiwan 28/2/10)

Đấng bậc vị vọng nói nhiều. Làm nhiều. Đó, là về các thánh. Trong Đạo. Nhưng, khi tìm/gặp Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu, nhiều vị đã và đang là thánh, nhưng vẫn chưa được phong. Chưa được thần quyền/giáo quyền vinh thăng thành hiển thánh. Trong giáo hội. Đó, là điều ta nên suy/nên hỏi: nếu từng gặp Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu. Là, Hạnh Phúc. Sao ta không thành thánh, được nhỉ? Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, Ngài luôn cảm hoá người được yêu. Đương yêu. Ngài không để mọi người luột mất Tình Yêu/Hạnh Phúc, Ngài ban phát. Có chăng, chỉ vì người ấy/người kia muốn ngược lại. Thế thôi.
Nói theo kiểu nghệ sĩ người đời/ở ngoài đời, là nói và hát, như thế này:


“Ngàn sao sáng xa,
nhìn Em thướt tha,
rụng rơi vướng mây, tóc ngà.
Đường thơm bóng gầy,
nhạc run lá bay,
hàng cây thiết tha, đắm say.”
(Phạm Duy – bđd)


Một khi đã gặp Tình-Yêu/Hạnh Phúc rồi, thì đương nhiên là “Em” và tôi, sẽ “thướt tha”. “Ngàn sao sáng xa”. Và khi đó, hàng cây/vũ trụ sẽ “thiết tha”. “Đắm say”. Như đã từng say Em/say tôi. Người con Chúa. Ở đây. Bây giờ. Vậy thì, hỡi “Em” và hỡi tôi, ta mạnh dạn lên mà ca và hát. Hát những lời cảm tạ. Cảm ơn đời. Cảm ơn người. Vì đời, vì người giúp ta tìm gặp Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu. Hạnh Phúc. Rất suốt đời.

Trần Ngọc Mười Hai
chừng như vẫn cứ tìm
mà không biết răng mình đã gặp.
Tình Yêu. Và, Hạnh Phúc.
Rất trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai



TÍN HIỆU VUI

Vũ Thủy


Những ngày vừa qua tôi sống trong một trạng thái rất ảm đạm, sức chịu đựng của tôi thì có hạn mà sao lại có nhiều chuyện đau buồn xảy đến quanh tôi? Nằm trên giường chiến đấu từng phút giây với bệnh tật, tôi mong cho thời gian trôi mau, tưởng chừng như thế mình sẽ qua khỏi cơn đau. Vậy mà tôi vẫn phải cố gắng tiếp 3 cú điện thoại của những người bạn đồng cảnh ngộ kể về những nỗi niềm u uẩn đớn đau của họ. Mỗi người một niềm đau, tôi không biết phải làm gì để giúp họ chỉ còn biết dâng nỗi đau của mình thay lời cầu nguyện. Tôi đau thêm nỗi đau của họ vì có lẽ phần nào những khúc mắc và bế tắc mà họ kể cho tôi nghe cũng lại là những gì đang vây bọc quanh tôi. Cuộc sống thật phức tạp mặc dù tôi đã cố gắng hết sức để nghĩ về nó đơn giản hơn. Có những lúc tôi sốt sắng dâng những niềm đau nỗi buồn ấy cho Chúa, có lúc tôi lại cảm thấy chán chường thất bại không chỉ cho riêng mình mà cho cả những người bạn ấy nữa. tôi đã không thể đến nhà thờ vào ngày lễ Phục sinh vì cơn bệnh không thuyên giảm và chính vì vậy mà tôi rơi vào trạng thái trì trệ suốt cả tuần lễ vừa rồi.

Sáng nay, tôi phân vân chẳng biết nên đi lễ sáng hay lễ chiều, tôi nghĩ, bây giờ mình vào nhà thờ nhưng chắc tâm trí mình sẽ không theo dõi nổi buổi lễ chủ nhật dài lê thê này đâu! Nhưng cuối cùng tôi quyết định đi lễ sáng, tôi thầm thì: "Lạy Chúa, xin cho con một chút ánh sáng nào lóe lên ở cuối con đường hầm mà con đang đi. Xin hãy gởi đến cho con một người bạn, một tín hiệu gì đó làm con vui lên!" Và trong tôi bỗng dưng phấn chấn lên đôi chút, tôi hồi hộp không biết trong ngày hôm nay điều gì sẽ xảy đến cho mình. Vì trước đây, mỗi khi tôi rơi vào tâm trạng ảm đạm, tôi thường cầu nguyện như thế và lần nào tôi cũng có những tín hiệu vui lên.

Trong khi hát kinh vinh danh, tôi nhận ra tình trạng trì trệ của mình biến mất, tôi hát với một giọng đầy nhiệt huyết. Rồi buổi lễ tuần tự diễn ra cho đến khi tôi nghe linh mục chủ tế đọc Phúc Âm tới đoạn:

-Tôma, vì con đã trông thấy Thầy nên con đã tin, phúc cho ai đã không thấy mà tin.

Tôi xúc động đến ứa nước mắt mặc dù câu này tôi đã nghe thấy rất nhiều lần trong cuộc đời của mình, nhưng đây là lần đầu tiên tôi có cảm xúc kỳ lạ đến như thế. Tôi cảm thấy thật diễm phúc vì mình đã không trông thấy Chúa mà tin. Tôi tin Chúa đã sống lại thật, từ khi còn là một bé gái ở Giáo xứ Tân Mai tôi đã rất thích chiêm ngưỡng bức tượng Chúa Kitô Phục sinh được trưng bày vào dịp lễ hàng năm. Đôi lúc tôi đã đi tìm chuỗi logic trong cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng không tìm ra hiện tượng vật lý nào đã gỡ bỏ những tấm khăn liệm xác Chúa. Chính con mắt đức tin khiến tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại thật.

Và lúc này đây, lòng tôi trào dâng một nỗi hân hoan vì mình đã tin vào sự Phục sinh của Chúa Kitô, có lẽ đó chính là nhân tố quan trọng giúp tôi cố gắng phấn đấu với bao nhiêu cơn quẫn bách của đời mình. Đó cũng là lúc tôi nhận ra tín hiệu vui mà Chúa đã gởi đến cho tôi ngày hôm ấy. Chiều đến, tôi còn nhận được một lời giải đáp cho những điều đã khiến tôi băn khoăn và buồn rầu suốt mấy ngày qua. Những tín hiệu vui từ một người bạn thân thiết của tôi, chúng tôi cùng vui lên trong một chiều Chủ nhật nắng đẹp.

Tôi cũng nhớ đến một dịp Cha Uy tổ chức cho nhóm khuyết tật chúng tôi đi chơi ở giáo xứ Hòa An. Hôm ấy đúng vào ngày lễ thánh TôMa, sau buổi sinh hoạt vui chơi có thánh lễ, trong khi giảng cha Uy đã thốt lên:

-Phúc cho ai không thấy mà làm thơ!

Tôi biết Cha nói câu ấy hướng về tôi. Và tôi đã ôm trọn tất cả những gì diễn ra trong buổi sinh hoạt đó viết một bài thơ đề tặng Cha Lê quang Uy với tựa đề là HANG TOẠI ĐẠO. Trùng hợp làm sao khi trong bài thơ ấy tôi đã có ý tưởng về ánh nến Phục sinh thế là tôi có dịp mở bài thơ đó ra xem lại. . .

Chủ nhật 19/4/2009
Kính tặng Cha Uy



HANG TOẠI ĐẠO


Phúc cho ai không thấy mà làm thơ
Tôi thì thấy cảnh một hang toại đạo
Giữa mảnh đất thanh bình như tên gọi
Vào buổi tối êm đềm ngày thứ bảy
Đầu thế kỷ 21 rất bôn ba
Khi người ta tắt hết các bóng đèn
Cảnh yên bình ở đây như gói lại...


Những cây nến Phục Sinh được thắp sáng
Tiếng nến sèo sèo đệm nhịp lời cha giảng
Tiếng nguyện cầu xen lẫn tiếng thương yêu
Chúng tôi nắm tay nhau giơ cao lòng thỉnh nguyện
Cha đi đến ôm vai đầy thân ái
Nghe họ nói cha Uy còn trẻ lắm
Nhưng tôi vẫn hình dung,
Một ông già chống gậy
Mái tóc bạc phơ, râu cằm một búi
Hình ảnh thánh tông đồ trong Quo Vadis...


Ấn tượng nhất lời những người chứng tá
Kẻ làm Đại phu miệt mài tìm chân lý
Nhận ra rằng chân lý là tình yêu
Tình yêu Chúa luôn chờ trong thinh lặng
Những phép lạ xưa, nay Chúa vẫn làm
Giấy báo tử nằm trên bàn chờ chữ ký
Người bệnh ung thư trỗi dậy sống vô tư...
Chúa vẫn gửi xuống trần gian nhiều thiên sứ
Những cô tiên đi khắp các nẻo đường
Hầu đem lại dầu chỉ lời an ủi
Cho kẻ bơ vơ không cửa, không nhà
Không manh áo, không người thân bên cạnh...


Một chứng tá của người mù kiên vững
Rằng: " Tôi đã thấy một niềm tin xác tín
Mặc dầu có bước chông chênh
Tôi không sợ những gì đen tối nữa
Bởi bàn tay Chúa vẫn quan phòng.
Hãy cứ bám vào tình yêu của Chúa
Rồi đời mình sẽ hết chông chênh!"


Khi bữa ăn tối dọn ra là nồi chè hấp dẫn
Thoảng mùi thơm, ngọt nghĩa ngọt tình
Hang toại đạo lùi trở về quá khứ
Gió ngoài kia vẫn rất xôn xao
Ở trong này bình yên đang reo hát.


Sau chuyến đi Hòa An ngày 3/7/2004
Vũ Thủy



THÂN XÁC CHÚNG TA
CHÍNH LÀ ĐỀN THỜ CHÚA THÁNH THẦN

A.P Mặc Trầm Cung


Niềm hạnh phúc và niềm tự hào của người Kitô hữu là tin rằng mình được tạo dựng từ Thiên Chúa và giống hình ảnh của Thiên Chúa (St 1, 26 – 27), đây chính là niềm tin vững vàng như đá tảng không gì lay chuyển được, niềm hạnh phúc và tự hào ấy càng được dâng cao lên tột đỉnh là thân xác của con người được trở thành Đền thờ của Chúa Thánh Thần (1Cr 3,16; 2Cr 6,16). Qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô con người đã trở thành một tạo vật mới, trở thành người nhà của Thiên Chúa, trở thành con cái Thiên Chúa, gọi Thiên Chúa là Cha, và được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa còn dang dở nơi trần gian này.
Khi chúng ta nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô chúng ta trở nên thành phần của gia đình Thiên Chúa. Phép Rửa đã liên kết và mời gọi chúng ta dự phần vào mối thông hiệp gia đình đời đời của Ba Ngôi Thiên Chúa, khi vị linh mục hay vị thừa tác làm nghi thức Rửa Tội đọc: “……… tôi rửa …….Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, lúc đó chúng ta được chính thức trở nên thành viên gia đình Thiên Chúa, nhờ công nghiệp tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu, Ngài đã làm cho chúng ta được nên Thánh và được tham dự vào ba sứ vụ Thánh là Tiên Tri – Vương Giả và Tư Tế. Chúng ta đã được tái sinh bởi nước và Chúa Thánh Thần, như Ngài đã phán: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Từ nay, chúng ta đã trở thành một tạo vật mới của Thiên Chúa Tình Yêu, thân xác chúng ta đã được thánh hóa và trở nên Đền Thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa “chúng ta được tràn đầy một Thần Khí duy nhất”(1Cr 12,13).
Phép Rửa ban cho chúng ta là một hình ảnh hữu hình nói lên một chân lý vô hình, chúng ta trở thành một hữu thể Thánh, một Đền Thờ sống động cho Ba Ngôi Chí Thánh ngự trị, chúng ta có bổn phận phải gìn giữ và quét dọn đền thờ thân xác chúng ta khỏi những bụi bặm làm che mờ đi hình ảnh của Thiên Chúa đang ngự trị trong lòng chúng ta.
Nhưng tiếc thay, những đam mê dục vọng, tôn thờ vật chất, tiền bạc đã trở thành ông chủ tối cao trong tâm hồn chúng ta, vì chạy theo danh vọng, chức quyền, thói kiêu căng, ngạo mạn ..v…v…, chúng ta đã làm ô uế đền thờ cao quý nơi thân xác mình mà Đức Giêsu đã phải đánh đổi bằng giá máu của Ngài.
Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc lành cho họ và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất……” (St 1,28). Như thế khi tạo dựng con người Thiên Chúa đã sinh ra tính dục và đặt tính dục vào trong thân thể con người cùng các cơ quan có nhiệm vụ lưu truyền sự sống, như thế con người được tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa trong việc tạo dựng con người. Qua tính dục Thiên Chúa đã đặt trong con người một bản năng thúc đẩy người nam và người nữ tìm đến với nhau. Nhưng tính dục được Thiên Chúa sắp đặt để phục vụ cho tình yêu, nó giữ một nhiệm vụ rất quan trọng là giúp con người quay về với tình yêu, tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa là mời gọi con người quay về với chính Thiên Chúa là tình yêu, quay về sống mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.
Như thế sự thu hút nhau một cách tự nhiên giữa hai người khác phái, tự bản chất không phải là điều tội lỗi. Vì tính dục mà Thiên Chúa đã đặt trong con người, nó đã chi phối con người từ khi sinh ra cho đến khi trở về cùng Thiên Chúa. Tính dục là một công trình của Thiên Chúa nơi con người, như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói rằng: “Thế nên tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người”.
Chúng ta đang sống trong một xã hội mà Thiên Chúa đang bị loại trừ một cách công khai, một môi trường xã hội đang muốn triệt tiêu những giá trị của Tin Mừng, một xã hội lấy khoái lạc, đam mê làm mục đích cuộc đời, kích thích và khai thác bản năng tính dục với mục đích thương mại, một lối sống đưa con người đặc biệt là giới trẻ chỉ biết sống hưởng thụ và bị ám ảnh bởi tình yêu thể xác, phủ nhận mọi giá trị luân lý, như phong trào sống thử, tự do luyến ái và dẫn đến tự do nạo phá thai. Chuyện nạo phá thai ngày nay không những được thực hiện một cách hợp pháp mà còn là một thành tích phải đạt được nữa. Và khi chấp nhận nạo phá thai nơi người nữ, cắt ống dẫn tinh nơi người nam là chúng ta đã đi ngược lại lập trình tính dục mà Thiên Chúa đã đặt nơi con người từ thưở đời đời, con người không những làm ô uế mà còn phá vỡ Đền Thờ của Thiên Chúa nơi thân xác con người nữa.
Một vị thánh mà không gặp thử thách là thánh giả, để chiến thắng hay làm chủ tính dục, đòi hỏi chúng ta phải trả giá. Chế ngự được tính dục nó sẽ mang lại cho chúng ta “niềm vui” và sẽ đem lại cho chúng ta “sự tự do thiêng liêng đích thật”.
Đoạn Tin Mừng Ga 2, 13 – 25 nói về việc Đức Giêsu thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem qua hành vi Ngài xua đuổi những người buôn bán và hất đổ các bàn đổi tiền, Ngài la mắng họ “hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây”. Ngài cũng muốn chúng ta thanh tấy Đền Thờ tâm hồn của mỗi người chúng ta, hãy đem những đam mê dục vọng, những lối sống trác táng vô độ ra khỏi tâm hồn chúng ta, vì những thứ đó đã làm cho tâm hồn chúng ta ra nhơ nhớp, như thế là chúng ta đã trục xuất Chúa Thánh Thần ra khỏi Đền thờ của Ngài là chính thân xác chúng ta.
Chính thân xác chúng ta cũng là đền thờ của Thánh Thần (1Cr 6,19). Mỗi người chúng ta cần phải hồi tâm, lắng đọng tâm hồn mình để thấy được những giá trị cao quý nơi thân xác chúng ta mà Thiên Chúa đã yêu thương tạo dựng và quyết tâm tu sửa, quét dọn, trang trí lại tâm hồn mình bằng ân sủng của các Bí tích, để thân xác chúng ta được tươi đẹp hơn, xứng đáng là một Đền Thờ sống động cho Chúa Thánh Thần ngự đến.

A.P Mặc Trầm Cung



CHỦ THUYẾT VÔ THẦN MỚI,
VÔ THẦN CHỪNG NÀO?

(How Atheistic Is the New Atheism?)
Trần Hữu Thuần dịch


Nếu có ai đã viết một cuốn sách chỉ trích đức tin tôn giáo nhiều hơn tôi đã viết, tôi không được biết đến.
—Sam Harris

Trong nhiều năm, tôi dạy một khóa thần học nhập môn gọi là “Vấn đề về Thiên Chúa” (The Problem of God) cho các lớp cử nhân Đại học Georgetown. Làm ra một bản liệt kê thích hợp cho kinh nghiệm khoa bảng quan trọng này luôn luôn là một thách thức, nhưng các bạn đồng sự và tôi bị thuyết phục rằng sinh viên của chúng tôi phải được phơi bày ra với sự uyên bác nhất của các người không tin. Lý lẽ của chúng tôi là bất cứ một cam kết chín muồi nào mà giới trẻ thông tuệ có thể thực hiện với đức tin tôn giáo, nếu họ chọn lựa như thế, phải được thử nghiệm cách phê phán bằng các người chống đối mãnh liệt nhất. Khóa học có lúc xáo trộn vì vài sinh viên và cách riêng vì các bạn trẻ họa hiếm đến từ bối cảnh thuyết tạo dựng hoặc nền giáo dục tôn giáo trước kia của họ đã không giải quyết cách thành thực với các khoa học tự nhiên. Nhưng đó cũng là một khóa học mở mắt cho các sinh viên đến từ các bối cảnh không tôn giáo hoặc vô thần. Họ phải đi qua tiến trình học hỏi rằng tôn giáo mang vô tận sắc thái nhiều hơn họ đã từng tưởng tượng ra. Thêm vào đó, họ sẽ bị phơi bày cho các nền thần học có thể sẽ tàn bạo trong việc chỉ trích các khía cạnh quỉ quái và mọi rợ của tôn giáo con người hơn bất cứ người vô thần mới nào từng làm.

Tôi không thể nói thay cho các giáo sư đại học ngày nay, nhưng trong các lớp của chính tôi, các sách mới của Dawkins, Harris, và Hitchens không bao giờ nằm trong bản liệt kê các sách phải đọc. Các lời chỉ trích đó đơn giản sẽ tăng cường sự ngu dốt của sinh viên không chỉ về tôn giáo mà chua chát thay cả về chủ thuyết vô thần. Tột mức, các trình bày của các người vô thần mới sẽ như là tài liệu hữu ích cho việc đọc ngoại khóa, các kế hoạch nhóm, hoặc các trình bày trước lớp. Và quan điểm của các hoạt động bên ngoài đó có thể không phải để cung cấp bất cứ điều gì gia tăng sự khôn ngoan hay trí thức. Đúng hơn, nó được dùng để xem công việc tương đối nhẹ mà các người vô thần mới bày ra hay ho chừng nào so với sức nặng của một thế hệ xưa hơn và đầy tư duy hơn của những người chỉ trích tôn giáo.

Nhận thức “mới” nguyên thủy nhất trong sách của Hitchens, ví dụ, là rằng “tôn giáo do con người làm ra (religion is man-made) (8, 10, 17, 52, 54, 99-100, 115, 130, 151, 167-68, 181, 202, 229, 240). Điệp khúc này lách cách qua các trang sách của phê phán của ông với hết năng lực của một mặc khải đáng kinh hãi. Sinh viên của tôi sẽ thấy thích thú, ấy là nói ít nhất, làm sao một nhận thức sáo mòn như vậy có thể trở thành trung tâm tổ chức của một cuốn sách bán chạy nhất. Sau khi quen thuộc với chủ thuyết vô thần cảm hứng bởi khoa học của Sigmund Freud hoặc Bertrand Russell và chủ thuyết lý tưởng nhân bản của Ludwig Feuerbach và Karl Marx, chủ thuyết vô thần mới xem ra nhiều phần phờ phạc vì cung cấp ít ỏi nhận thức mới tại sao tôn giáo lại có thể nguy hiểm đến như vậy.

Liên quan đến quan tâm nâng cao tri thức về tôn giáo, các người vô thần mới chẳng làm gì nhiều hơn là cung cấp một danh mục mới mẻ các điều ác do các đức tin hữu thần chế tác ra. Cùng lúc, tâm trí người trẻ đích thực muốn tìm hiểu vẫn chưa yên tìm kiếm nhận thức sâu xa hơn. Thậm chí lý thuyết của Freud về nguồn gốc tôn giáo, cùng với các lý thuyết của Feuerbach và Marx, cho dẫu xem ra sai lầm đến thế nào với các sinh viên của tôi, ít nhất cũng lôi cuốn họ chú ý và làm cho họ bắt đầu suy tư liệu toàn bộ công chuyện về tôn giáo có thể là một tạo dựng của con người ảo tưởng hay không. So sánh với các bậc thầy ngày xưa của lý thuyết dự đoán, các sinh viên của tôi sẽ nhận thấy cuốn sách của Hitchens đúng ra là những gì tẻ nhạt. Vì trong khi Feuerbach, Marx, và Freud cung cấp các khung lý thuyết hấp dẫn cho các lý thuyết của họ, Hitchens chẳng cung cấp được thứ gì đại loại như vậy.

Mặt khác, tôi nghi ngờ các sinh viên của tôi sẽ bị kích thích bởi các bài viết gần đây của Dawkins, Dennett, và những người khác tuyên bố đưa ra một giải thích sinh học, tiến hóa về lý do tại sao người ta tin tưởng vào Thiên Chúa. Họ có thể đã học trong khóa học của chúng tôi rằng không có một lý do thần học hay ho nào để phản kháng bất cứ nỗ lực nào của khoa học về nhận hiểu tôn giáo, thậm chí theo cách tiến hóa. Khóa học đã nói rõ rằng tôn giáo có thể và quả thực phải được nghiên cứu như là một hiện tượng tự nhiên. Nói cho cùng, đây là phương cách duy nhất khoa học có thể nghiên cứu bất cứ điều gì, và các nhận thức của nó hoàn toàn phù hợp với bất cứ nền thần học chính đáng nào. Nhưng vì các lý do tôi triển khai trong các chương 5 và 6, các sinh viên của tôi có quyền phân vân liệu lý thuyết tiến hóa, hoặc bất cứ khoa học tự nhiên hay xã hội nào, có thể đưa ra một nhận thức hoàn toàn và đầy đủ về tôn giáo hay không. Trong khóa học một học kỳ của chúng tôi, sinh viên đã gặp gỡ trong cuốn sách của Freud Tương lai của ảo giác (The Future of an Illusion) lời tuyên bố rằng một mình khoa học là con đường đáng tin cậy để nhận thức đích thực về bất cứ điều gì. Và họ có thể đã học được từ các sách đọc thêm khác rằng tuyên bố này là một tuyên ngôn về đức tin được biết đến như là chủ thuyết khoa học (scientism), một hệ thống niềm tin hiện đại đã có dấu ấn thêm vào của việc tự đối kháng.

Tại sao tự đối kháng? Bởi vì chủ thuyết khoa học bảo chúng ta không chấp nhận thứ gì theo đức tin, thế nhưng đức tin đòi buộc phải có để chấp nhận chủ thuyết khoa học. Những gì đáng chú ý là rằng chẳng có ai trong các người vô thần mới xem ra đã mảy may chuẩn bị để thú nhận rằng chủ thuyết khoa học của ông ấy là một thú nhận tự hủy diệt về đức tin. Xin lắng nghe Hitchens: “Nếu người ta phải có đức tin nhằm để tin tưởng vào một điều gì, như thế việc xem ra cái điều gì đó nếu có sự thực hay giá trị nào đều xem như bị giảm giá trị” (71). Nhưng lời phát biểu này tự nó vô giá trị vì nó cũng trỗi sinh từ đức tin vào các điều không nhìn thấy. Không có một tập hợp các thử nghiệm hữu hình hoặc các trình bày có thể trông thấy đã từng chứng minh được bằng khoa học rằng lời phát biểu đó là chân thật. Nhằm đề xuất lời tuyên bố vừa dẫn chiếu cách tự tin như vậy, Hitchens đã phải chấp nhận tín điều (creed) vào một cộng đoàn đức tin (faith) mà chủ thuyết khoa học và chủ thuyết thiên nhiên khoa học cung cấp các căn bản giáo điều. Và Hitchens phải biết rằng hầu hết người ta không chấp nhận tín điều đó, có thể vì không có “chứng cứ” nào cho nó cả.

“Chúa của chúng ta là logos ” (Our god is logos), Freud hãnh diện tuyên bố trong Tương lai của ảo giác, thẳng thắn báo hiệu đặc tính tín điều của giáo điều trọng tâm được toàn bộ cộng đoàn những người theo chủ thuyết duy lý khoa học (scientific rationalists) tôn thờ. Lời tuyên bố là đề tài tốt cho việc thảo luận trong lớp, nhưng bất cứ khi nào tôi bảo các lớp của tôi đánh giá lời tuyên bố của Freud, họ không mất nhiều thì giờ để nhận ra rằng ch
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
« Xem chủ đề trước | Xem chủ đề kế »
gửi bài mới Trả lời chủ đề này DIỄN ĐÀN GIÁO PHẬN VINH -> Truyện, ký, tiểu thuyết, đoản khúc... Chuyển đến trang 1, 2, 3, 4, 5  Trang kế


 
Chuyển đến
 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
Bạn không được phép gởi kèm file trong diễn đàn
Bạn có thể download files trong diễn đàn


Copyright © 2013 GIAOPHANVINH.NET :: All rights reserved.
Email biên tập: [email protected] || Ban quản trị: [email protected]